Nghiên cứu thực trạng căng thẳng và một số chỉ số sinh học ở sinh viên trường đại học y dược thái bình tham gia phòng chống dịch covid 19

Chuyên khảo y tế phân tích Nghiên cứu thực trạng căng thẳng và một số chỉ số sinh học ở sinh viên trường đại học y dược thái, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Y Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tóm tắt

2022

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới và việt nam

1.1.1. Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới

1.1.2. Tình hình đại dịch Covid-19 tại Việt Nam

1.1.3. Tình hình chống dịch tại thành phố Hồ Chí Minh và ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trên đội ngũ nhân viên y tế tuyến đầu

1.2. Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế và sinh viên y

1.2.1. Một số nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế và sinh viên y trên thế giới và Việt Nam

1.3. Một số chỉ số sinh học liên quan đến trạng thái căng thẳng

1.3.1. Một số chỉ số chức năng tim mạch liên quan đến trạng thái căng thẳng

1.3.2. Chỉ số nội tiết liên quan đến trạng thái căng thẳng

2. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

2.1. CÁCH TIẾP CẬN, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KỸ THUẬT ĐÃ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

2.1.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.2. Thời gian nghiên cứu
2.1.1.3. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.1.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.1.4. Các biến số nghiên cứu

2.1.5. Tổ chức nghiên cứu

2.1.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.1.7. Các biện pháp khống chế sai số

2.1.8. Vấn đề y đức trong nghiên cứu

2.2. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

2.2.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống dịch Covid-19

2.2.2.1. Đối tượng có căng thẳng chức năng tim mạch ở mức cao theo giới (mức 3/4 theo phân loại của Baevski)
2.2.2.2. Đối tượng có căng thẳng chức năng thần kinh thực vật theo giới

2.2.3. Tác động lợi ích do kết quả nghiên cứu, triển khai mang lại

2.2.3.1. Đối với lĩnh vực KHCN có liên quan
2.2.3.2. Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu
2.2.3.3. Đối với kinh tế xã hội và môi trường

2.2.4. Thực trạng stress, trầm cảm và lo âu theo thang điểm DASS 21 và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống Covid-19

2.2.5. Một số chỉ số sinh học trên hệ tim mạch và nội tiết ở sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống dịch Covid-19

2.2.6. Đối với người làm nghiên cứu

2.2.7. Đối với sinh viên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Căng Thẳng Sinh Viên Y Dược Thái Bình

Nghiên cứu về căng thẳng và các chỉ số sinh học ở sinh viên Y Dược Thái Bình trong bối cảnh đại dịch COVID-19 là vô cùng cần thiết. Đại dịch đã tạo ra áp lực lớn lên toàn xã hội, đặc biệt là sinh viên ngành y, những người tham gia trực tiếp vào công tác phòng chống dịch. Việc hiểu rõ thực trạng stress, lo âu, và trầm cảm, cùng với các biến đổi sinh học liên quan, sẽ giúp xây dựng các giải pháp hỗ trợ sức khỏe tâm thần và thể chất cho sinh viên, đảm bảo nguồn nhân lực y tế tương lai. Nghiên cứu này hướng đến đánh giá mức độ ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 lên sinh viên và từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp.

1.1. Bối Cảnh Đại Dịch COVID 19 và Áp Lực Lên Sinh Viên Y

Đại dịch COVID-19 đã gây ra những tác động to lớn lên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là hệ thống y tế. Sinh viên y dược, với vai trò là lực lượng hỗ trợ tuyến đầu, phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm cao, khối lượng công việc lớn và những căng thẳng tâm lý do chứng kiến những mất mát đau thương. Điều này dẫn đến sự gia tăng stress, lo âu, và trầm cảm ở sinh viên. Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của những áp lực này lên sức khỏe tâm thầnsinh lý của sinh viên Y Dược Thái Bình.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Chỉ Số Sinh Học và Tâm Lý

Nghiên cứu không chỉ tập trung vào đánh giá tâm lý mà còn đo lường các chỉ số sinh học liên quan đến stress, như huyết áp, nhịp tim, và nồng độ cortisol. Việc kết hợp đánh giá tâm lý và sinh học giúp có được cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của đại dịch lên sức khỏe của sinh viên. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả, giúp sinh viên phục hồi sức khỏe tâm thần và thể chất sau khi tham gia phòng chống dịch. Điều này đặc biệt quan trọng để đảm bảo sức khỏe của đội ngũ y tế tương lai.

II. Thách Thức Căng Thẳng COVID 19 Ảnh Hưởng Sinh Viên Y Dược

Một trong những thách thức lớn nhất là xác định mức độ ảnh hưởng thực sự của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thầnthể chất của sinh viên Y Dược Thái Bình. Liệu những căng thẳng trong quá trình tham gia chống dịch có gây ra những hậu quả lâu dài cho sức khỏe của sinh viên hay không? Việc lượng hóa mức độ stress, lo âu, và trầm cảm, cùng với các thay đổi trong các chỉ số sinh học, là rất quan trọng để đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Ngoài ra, cũng cần xác định các yếu tố nguy cơ khiến một số sinh viên dễ bị ảnh hưởng hơn những người khác.

2.1. Áp Lực Tâm Lý và Rối Loạn Tâm Thần Phổ Biến

Đại dịch đã làm gia tăng các vấn đề sức khỏe tâm thần như rối loạn lo âu, trầm cảmstress. Sinh viên y dược tham gia chống dịch phải đối mặt với áp lực cao từ công việc, nguy cơ lây nhiễm và chứng kiến những mất mát đau thương. Những áp lực này có thể dẫn đến các rối loạn tâm thần, ảnh hưởng đến khả năng học tậpchất lượng cuộc sống của sinh viên.

2.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Căng Thẳng Ở Sinh Viên Y Dược

Nghiên cứu cần xác định các yếu tố nguy cơ khiến một số sinh viên dễ bị ảnh hưởng bởi stress hơn những người khác. Các yếu tố này có thể bao gồm: tuổi tác, giới tính, năm học, tình trạng kinh tế, tiền sử bệnh tâm thần, và mức độ hỗ trợ xã hội. Việc xác định các yếu tố nguy cơ giúp xác định các nhóm sinh viên cần được ưu tiên hỗ trợ và xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp. Các yếu tố kinh tế gia đình, kết quả học tập cũng có thể ảnh hưởng lớn.

2.3. Khó Khăn Trong Đánh Giá Chính Xác Mức Độ Ảnh Hưởng

Việc đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của đại dịch đến sức khỏe tâm thần và thể chất của sinh viên là một thách thức. Nhiều sinh viên có thể không nhận ra hoặc không muốn thừa nhận mình đang gặp vấn đề. Ngoài ra, các công cụ đánh giá tâm lý có thể không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam. Việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá, bao gồm cả đánh giá tâm lý và đo lường chỉ số sinh học, là cần thiết để có được kết quả chính xác và tin cậy.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Căng Thẳng và Chỉ Số Sinh Học

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang để đánh giá thực trạng căng thẳng và các chỉ số sinh học ở sinh viên Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống dịch COVID-19. Mẫu nghiên cứu bao gồm sinh viên đã từng tham gia chống dịch tại TP.HCM. Các công cụ đánh giá bao gồm thang đo DASS-21 để đo lường stress, lo âu, và trầm cảm, cùng với các xét nghiệm sinh học để đo lường huyết áp, nhịp tim, cortisol, và các chỉ số khác. Phân tích thống kê được sử dụng để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và mức độ ảnh hưởng của đại dịch.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Cắt Ngang và Chọn Mẫu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang cho phép đánh giá thực trạng stress và các chỉ số sinh học tại một thời điểm nhất định. Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đảm bảo tính đại diện cho sinh viên Y Dược Thái Bình đã tham gia phòng chống dịch. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên các nghiên cứu trước đó và đảm bảo đủ mạnh để phát hiện các mối liên quan có ý nghĩa.

3.2. Sử Dụng Thang Đo DASS 21 Đánh Giá Mức Độ Stress

Thang đo DASS-21 (Depression, Anxiety and Stress Scale) là một công cụ đã được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ stress, lo âu, và trầm cảm. Thang đo này bao gồm 21 câu hỏi, chia thành 3 tiểu thang đo: trầm cảm, lo âu, và stress. Điểm số cao hơn cho thấy mức độ stress, lo âu, và trầm cảm cao hơn. Thang đo DASS-21 được sử dụng để thu thập dữ liệu về sức khỏe tâm thần của sinh viên.

3.3. Đo Lường Các Chỉ Số Sinh Học Khách Quan

Ngoài đánh giá tâm lý, nghiên cứu còn đo lường các chỉ số sinh học khách quan, bao gồm huyết áp, nhịp tim, và nồng độ cortisol. Các chỉ số này có thể phản ánh mức độ căng thẳng của cơ thể. Ví dụ, nồng độ cortisol tăng cao có thể là dấu hiệu của stress kéo dài. Việc kết hợp đánh giá tâm lý và đo lường chỉ số sinh học giúp có được cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của đại dịch lên sức khỏe của sinh viên.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Trạng Căng Thẳng Sinh Viên Y Dược TB

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress, lo âu, và trầm cảm ở sinh viên Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống dịch COVID-19 là đáng báo động. Nhiều sinh viên có các chỉ số sinh học bất thường, cho thấy sự ảnh hưởng của căng thẳng lên hệ tim mạch và nội tiết. Nghiên cứu cũng xác định được một số yếu tố nguy cơ quan trọng, như thời gian tham gia chống dịch, mức độ lo lắng, và thiếu sự hỗ trợ xã hội.

4.1. Tỷ Lệ Stress Lo Âu Trầm Cảm Vượt Mức Trung Bình

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress, lo âu, và trầm cảm ở sinh viên tham gia chống dịch cao hơn so với mức trung bình ở sinh viên y khoa nói chung. Điều này cho thấy tác động tiêu cực của đại dịch và công tác phòng chống dịch đến sức khỏe tâm thần của sinh viên. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu những ảnh hưởng này.

4.2. Biến Động Các Chỉ Số Sinh Học Liên Quan Đến Stress

Nghiên cứu ghi nhận sự biến động của các chỉ số sinh học liên quan đến stress, như tăng huyết áp, tăng nhịp tim, và rối loạn nhịp tim. Những thay đổi này có thể gây ra các vấn đề sức khỏe lâu dài nếu không được kiểm soát. Cần theo dõi và can thiệp kịp thời để bảo vệ sức khỏe tim mạch của sinh viên.

4.3. Thời Gian Tham Gia Chống Dịch Ảnh Hưởng Đến Mức Độ Stress

Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian tham gia chống dịch có liên quan đến mức độ stress của sinh viên. Sinh viên tham gia chống dịch càng lâu thì mức độ stress càng cao. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc luân phiên công tác và cung cấp hỗ trợ tâm lý cho sinh viên trong quá trình tham gia phòng chống dịch.

V. Giải Pháp Hỗ Trợ Sinh Viên Y Dược Vượt Qua Căng Thẳng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần triển khai các giải pháp hỗ trợ toàn diện cho sinh viên Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống dịch COVID-19. Các giải pháp này bao gồm: tư vấn tâm lý, giáo dục sức khỏe, tăng cường hỗ trợ xã hội, và cải thiện điều kiện làm việc. Ngoài ra, cần có các chương trình tầm soát sức khỏe tâm thần định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các vấn đề liên quan.

5.1. Chương Trình Tư Vấn Tâm Lý Cá Nhân và Nhóm

Cung cấp các buổi tư vấn tâm lý cá nhân và nhóm cho sinh viên để giúp họ giải tỏa stress, lo âu, và trầm cảm. Các buổi tư vấn nên được thực hiện bởi các chuyên gia tâm lý có kinh nghiệm và được thiết kế phù hợp với nhu cầu của sinh viên. Tạo không gian an toàn để sinh viên chia sẻ cảm xúckinh nghiệm của mình.

5.2. Giáo Dục Sức Khỏe Về Quản Lý Stress và Chăm Sóc Bản Thân

Tổ chức các buổi giáo dục sức khỏe về quản lý stress, kỹ năng đối phó với căng thẳng, và chăm sóc bản thân. Giúp sinh viên nhận biết các dấu hiệu của stress và áp dụng các kỹ thuật thư giãn, tập thể dục, và ngủ đủ giấc để giảm căng thẳng. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần.

5.3. Tăng Cường Hỗ Trợ Xã Hội và Tạo Môi Trường Làm Việc Hỗ Trợ

Tăng cường hỗ trợ xã hội cho sinh viên thông qua việc khuyến khích sự gắn kết giữa sinh viên, giảng viên, và nhân viên y tế. Tạo môi trường làm việc hỗ trợ, nơi sinh viên cảm thấy được quan tâm, lắng nghe, và thấu hiểu. Khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa và các câu lạc bộ để giảm căng thẳng và tăng cường kết nối xã hội.

VI. Kết Luận Nghiên Cứu Tiền Đề Cho Hỗ Trợ Sinh Viên Y Dược

Nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng quan trọng về ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thầnthể chất của sinh viên Y Dược Thái Bình. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả, giúp sinh viên phục hồi sức khỏe và tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quan tâm đến sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa và cung cấp các nguồn lực cần thiết để hỗ trợ họ vượt qua những khó khăn.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Quan Tâm Sức Khỏe Tâm Thần Sinh Viên Y

Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc quan tâm đến sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa. Sinh viên y khoa phải đối mặt với nhiều áp lực trong quá trình học tập và thực hành, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch. Việc bỏ qua các vấn đề sức khỏe tâm thần có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho cả sinh viên và cộng đồng.

6.2. Tiếp Tục Nghiên Cứu Để Tìm Hiểu Hậu Quả Dài Hạn Của Đại Dịch

Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm hiểu những hậu quả dài hạn của đại dịch COVID-19 đối với sức khỏe tâm thầnthể chất của sinh viên y khoa. Các nghiên cứu theo dõi dọc có thể giúp xác định những vấn đề sức khỏe tiềm ẩn và đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp.

6.3. Kêu Gọi Đầu Tư Vào Các Chương Trình Hỗ Trợ Sức Khỏe Tâm Thần

Nghiên cứu kêu gọi đầu tư vào các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho sinh viên y khoa. Các chương trình này cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của sinh viên và được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm. Việc đầu tư vào sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa là đầu tư vào tương lai của ngành y tế.

23/05/2025
Nghiên cứu thực trạng căng thẳng và một số chỉ số sinh học ở sinh viên trường đại học y dược thái bình tham gia phòng chống dịch covid 19

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sự cần thiết phải triển khai thực hiện đề tài Đại dịch COVID-19 đã đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho toàn xã hội. Hậu quả vô hình của đại dịch chƣa thể thống kê một cách toàn diện, đó là sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh tâm thần nhƣ mắc trầm cảm, rối loạn lo âu, lạm dụng ma túy và tự sát trên toàn thế giới, đặc biệt ở nhân viên y tế tuyến đầu tham gia chống dịch do sự quá tải của hệ thống y tế, nguy cơ bị nhiễm virus, thời gian làm việc kéo dài và chứng kiến số lƣợng bệnh nhân tử vong lớn nhất chƣa từng xuất hiện trong y văn suốt nhiều thập kỷ qua. Đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 27 tháng 4 năm 2021 và đƣợc nhận định là đợt bùng phát có mức độ nghiêm trọng [6] do biến thể Delta với tỷ lệ lây lan cao, dẫn đến số ca nhiễm tăng nhanh gây quá tải y tế ở Việt Nam và gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân Covid- 19, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh [17]. Hƣởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế và Ủy Ban nhân dân tỉnh Thái Bình, Trƣờng Đại học Y Dƣợc Thái Bình đã cử hơn 700 lƣợt sinh viên tham gia chống dịch tại thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi đặt ra là sau khi tham gia chống dịch trở về các stress tâm lý đó ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần và thực thể của sinh viên như thế nào?; liệu sau khi căng thẳng chấm dứt, cơ chế tự điều hòa, ổn định nội môi của sinh viên với lứa tuổi trẻ đầy nhiệt huyết có sớm trở về bình thường hay không? Từ đó mới có thể trả lời liệu việc sinh viên thực hiện các nhiệm vụ lâm sàng cộng đồng trong đại dịch này có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân cao hơn những rủi ro liên quan đến sự tham gia của sinh viên hay không và như vậy sinh viên y khoa có một vai trò nhất định trong việc bù đắp gánh nặng do Covid-19 gây ra? Đây cũng là câu hỏi lớn và gây sự tranh luận giữa nhiều trƣờng đại học Y và các tổ chức trên thế giới bởi đại dịch Covid-19 đã cho thấy lỗ hổng rất lớn về thiếu hụt nhân lực y tế. Tại Việt Nam hiện nay chƣa có nghiên cứu toàn diện nào trên sinh viên tham gia tuyến đầu chống dịch, hầu hết các nghiên cứu mang tính chất định tính. Stress là hiện thực của cuộc sống, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid hiện nay, vì vậy ngoài trắc nghiệm tâm lý, rất cần lƣợng hóa đƣợc mức độ stress bằng các chỉ số đo lƣờng sinh học khách quan. Từ đó mới đƣa ra đƣợc các giải pháp thích hợp để cải thiện sức khỏe của sinh viên và góp phần nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực quý, tiếp tục cung cấp cho đất nƣớc khi có đại dịch xảy ra.

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với 2 mục tiêu sau Mục tiêu của đề tài 1. Mô tả thực trạng stress, trầm cảm và lo âu theo thang điểm DASS 21 và xác định một số yếu tố liên quan ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống Covid-19. Đánh giá một số chỉ số sinh học trên hệ tim mạch và nội tiết ở các đối tượng nghiên cứu trên. Tổng quan tài liệu Tổng quan tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới và việt nam 2.

Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới Cuối tháng 12 năm 2019, một đợt bùng phát bệnh do coronavirus mới 2019 (Covid- 19) đƣợc ghi nhận đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc, hiện nay đã phát triển thành một đại dịch ảnh hƣởng đến tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chỉ trong một thời gian ngắn, Covid-19 trở thành một khủng hoảng to lớn và tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, khiến nhiều ngƣời tử vong, nhiều nƣớc đứng trên bờ khủng hoảng y tế. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tính đến ngày 30/10/2022 có 635. 634 ngƣời mắc; 6,5 triệu ngƣời tử vong [1]. Đại dịch viêm đƣờng hô hấp cấp do chủng mới của virus corona kéo dài cho tới nay trên 223 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tất cả các yếu tố trên do đại dịch Covid-19 đã gây ra áp lực tâm lý không nhỏ đối với ngƣời dân trên toàn thế giới [38]. Các vấn đề sức khỏe tâm thần nhƣ lo âu, stress và trầm cảm là phổ biến ở công chúng, đặc biệt là đội ngũ nhân viên y tế đã phải chịu áp lực rất lớn trƣớc số ca mắc và tử vong lớn chƣa từng thấy trong lịch sử y văn. Tình hình đại dịch Covid-19 tại Việt Nam Đợt dịch đầu tiên đƣợc tính từ ngày 22/01/2020 đến 22/7/2020, cả nƣớc ghi nhận 415 ca Covid-19 (309 F0 trong nƣớc và 106 F0 nhập cảnh), không có bệnh nhân tử vong. Kể từ đầu dịch đến nay (20/12/2022) Việt Nam có 11.367 ca nhiễm, đứng thứ 13/230 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 117/230 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu ngƣời có 116.Ngày 20/6/2022 tại Hội nghị trực tuyến với các địa phƣơng trong toàn quốc về công tác y tế và phòng, chống dịch, Bộ Y tế cho biết với diễn biến dịch bệnh Covid-19 trên thế giới trên thế giới, thời gian gần đây, biến thể Omicron đã ghi nhận chiếm chủ đạo với các nhánh phụ BA.2; trong khi biến thể phụ BA.5 đã ghi nhận ở nhiều quốc gia có nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam và có thể dẫn đến sự gia tăng các ca mắc Covid-19 trong thời gian tới [2],[19].

Tình hình chống dịch tại thành phố Hồ Chí Minh và ảnh hưởng của đại dịch Covid- 19 trên đội ngũ nhân viên y tế tuyến đầu Đại dịch Covid-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23 tháng 1 năm 2020. Đây cũng là nơi có ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam. Tối ngày 24 tháng 3, Bộ Y tế công bố thêm 11 ca mắc Covid-19, trong đó có 4 ca ở TP. Hồ Chí Minh.

Cho đến cuối tháng 3 năm 2020, số ca xác định nhiễm Covid-19 tại thành phố này là 47 trƣờng hợp, với 10 trƣờng hợp đã xuất viện. Thành phố Hồ Chí Minh bƣớc vào tháng 4 với thực hiện giãn cách 14 ngày theo chỉ thị 16. Lúc này các y bác sĩ từ khắp mọi miền đất nƣớc dồn lực hỗ trợ Miền Nam.000 chuyên gia, y bác sĩ cùng hàng tấn trang thiết bị hiện đại, đồng bộ đã đƣợc Bộ Y tế huy động vào TP HCM và các tỉnh phía Nam chống dịch Covid-19.Tổng nhân lực y tế tham gia hỗ trợ chống dịch tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là gần 24 nghìn ngƣời; ƣớc tính có khoảng 2.300 nhân viên y tế bị lây nhiễm.

6 Ngành y tế đã và đang khẳng định đƣợc tâm thế, vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trƣớc tính mệnh và sức khoẻ của ngƣời dân. Trong một thời gian ngắn, chúng ta triển khai hàng chục bệnh viện dã chiến, hàng trăm trạm y tế lƣu động để thu dung, điều trị BN, giảm chuyển nặng, giảm tử vong, trong khi nếu điều kiện bình thƣờng sẽ mất rất nhiều thời gian để thực hiện. Ảnh hưởng đến tuyến đầu của đội ngũ chống dịch Hai vấn đề có thể xuất hiện ở nhóm nhân viên y tế tuyến đầu bao gồm: Tổn thƣơng đạo đức (Moral Injury): Đây là tình trạng nội tâm của nhân viên y tế bị xung đột khi phải chứng kiến hoặc đƣa ra quyết định liên quan tính mạng bệnh nhân. Họ phải đối mặt với những tình huống chọn lựa dẫn đến kết quả tiêu cực.

Những quyết định này đôi khi mâu thuẫn với giá trị đạo đức của họ hay chuẩn mực hành nghề. Kiệt sức nghề nghiệp cũng là một trong những yếu tố liên quan vấn đề này. [2] Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế và sinh viên y 2. Một số nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế và sinh viên y trên thế giới và Việt Nam Một số nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu gần đây cho thấy trong thời kỳ dịch Covid-19, các vấn đề sức khỏe tâm thần nhƣ sợ hãi, lo lắng và trầm cảm là phổ biến ở công chúng, bệnh nhân, nhân viên y tế, trẻ em và ngƣời lớn tuổi tại Trung quốc.

Một nghiên cứu về ảnh hƣởng của dịch Covid-19 đến giáo dục của UNESCO nhằm kiểm tra sức khỏe tâm thần của 89.588 sinh viên đại học trong thời kỳ dịch Covid-19 ở Trung Quốc đã đƣa ra một số bằng chứng lý thuyết về sự can thiệp tâm lý của sinh viên đại học [35]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm theo nhiều hƣớng và trên nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ: công nhân, học sinh - sinh viên, các nhân viên y tế - ngƣời trực tiếp hay gián tiếp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân… [20], [24], [28], [32]. Đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhân viên y tế. Một nghiên cứu của Stephen X Zhang (2020) báo cáo sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, lo lắng, trầm cảm, đau khổ và sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế ở Iran khi quốc gia này phải đối mặt với số ca nhiễm Covid-19 ở thời kỳ đỉnh điểm.

Trong một mẫu gồm 304 nhân viên y tế (bác sĩ, y tá, bác sĩ X quang, kỹ thuật viên, v.), chúng tôi nhận thấy một phần khá lớn đạt đến mức giới hạn của các rối loạn lo âu (28,0%), trầm cảm (30,6%) và đau khổ (20,1%). Nghiên cứu này giúp xác định các nhân viên y tế cần trợ giúp có mục tiêu hơn vì nhân viên y tế ở nhiều quốc gia đang phải đối mặt với đỉnh điểm về số ca Covid-19 của họ [31]. Xingyue Song nghiên cứu năm 2020. Điều tra tổng 14.825 bác sĩ và y tá ở 31 tỉnh của Trung Quốc đại lục cho thấy tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) lần lƣợt là 25,2% và 9,1% [30].

Yiming Liang nghiên cứu trên 899 nhân viên y tế tuyến đầu và 1104 ngƣời đƣợc hỏi trong dân số nói chung đã tham gia. Nhìn chung, 30,43%, 20,29% và 14,49% nhân viên y tế tuyến đầu ở tỉnh Hồ Bắc và 23,13%, 13,14% và 10,64% nhân viên y tế tuyến 7 đầu ở các khu vực khác lần lƣợt báo cáo các triệu chứng trầm cảm, lo lắng và mất ngủ [24]. Wenning Fu và cộng sự nghiên cứu tổng số 89.588 sinh viên đại học kết quả có 36.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Căng Thẳng và Chỉ Số Sinh Học ở Sinh Viên Y Dược Thái Bình trong Thời Kỳ COVID-19" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của đại dịch COVID-19 đối với sức khỏe tâm lý và sinh lý của sinh viên ngành y dược. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra mức độ căng thẳng mà sinh viên phải đối mặt trong bối cảnh khủng hoảng sức khỏe toàn cầu, mà còn phân tích các chỉ số sinh học liên quan, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa căng thẳng và sức khỏe thể chất.

Bằng cách nắm bắt những thông tin này, độc giả có thể nhận thức rõ hơn về những thách thức mà sinh viên y dược đang gặp phải, từ đó tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ phù hợp. Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kiến thức thái độ thực hành về phòng chống dịch covid 19 và một số yếu tố liên quan của sinh viên khoa y trường đại học kinh doanh và công nghệ hà nội năm 2020, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về kiến thức và thái độ của sinh viên trong việc phòng chống dịch bệnh. Tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm thông tin và góc nhìn đa chiều về cách sinh viên ứng phó với đại dịch.