Đặt vấn đề Sự cần thiết phải triển khai thực hiện đề tài Đại dịch COVID-19 đã đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho toàn xã hội. Hậu quả vô hình của đại dịch chƣa thể thống kê một cách toàn diện, đó là sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh tâm thần nhƣ mắc trầm cảm, rối loạn lo âu, lạm dụng ma túy và tự sát trên toàn thế giới, đặc biệt ở nhân viên y tế tuyến đầu tham gia chống dịch do sự quá tải của hệ thống y tế, nguy cơ bị nhiễm virus, thời gian làm việc kéo dài và chứng kiến số lƣợng bệnh nhân tử vong lớn nhất chƣa từng xuất hiện trong y văn suốt nhiều thập kỷ qua. Đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 27 tháng 4 năm 2021 và đƣợc nhận định là đợt bùng phát có mức độ nghiêm trọng [6] do biến thể Delta với tỷ lệ lây lan cao, dẫn đến số ca nhiễm tăng nhanh gây quá tải y tế ở Việt Nam và gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân Covid- 19, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh [17]. Hƣởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế và Ủy Ban nhân dân tỉnh Thái Bình, Trƣờng Đại học Y Dƣợc Thái Bình đã cử hơn 700 lƣợt sinh viên tham gia chống dịch tại thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi đặt ra là sau khi tham gia chống dịch trở về các stress tâm lý đó ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần và thực thể của sinh viên như thế nào?; liệu sau khi căng thẳng chấm dứt, cơ chế tự điều hòa, ổn định nội môi của sinh viên với lứa tuổi trẻ đầy nhiệt huyết có sớm trở về bình thường hay không? Từ đó mới có thể trả lời liệu việc sinh viên thực hiện các nhiệm vụ lâm sàng cộng đồng trong đại dịch này có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân cao hơn những rủi ro liên quan đến sự tham gia của sinh viên hay không và như vậy sinh viên y khoa có một vai trò nhất định trong việc bù đắp gánh nặng do Covid-19 gây ra? Đây cũng là câu hỏi lớn và gây sự tranh luận giữa nhiều trƣờng đại học Y và các tổ chức trên thế giới bởi đại dịch Covid-19 đã cho thấy lỗ hổng rất lớn về thiếu hụt nhân lực y tế. Tại Việt Nam hiện nay chƣa có nghiên cứu toàn diện nào trên sinh viên tham gia tuyến đầu chống dịch, hầu hết các nghiên cứu mang tính chất định tính. Stress là hiện thực của cuộc sống, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid hiện nay, vì vậy ngoài trắc nghiệm tâm lý, rất cần lƣợng hóa đƣợc mức độ stress bằng các chỉ số đo lƣờng sinh học khách quan. Từ đó mới đƣa ra đƣợc các giải pháp thích hợp để cải thiện sức khỏe của sinh viên và góp phần nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực quý, tiếp tục cung cấp cho đất nƣớc khi có đại dịch xảy ra.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với 2 mục tiêu sau Mục tiêu của đề tài 1. Mô tả thực trạng stress, trầm cảm và lo âu theo thang điểm DASS 21 và xác định một số yếu tố liên quan ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình sau khi tham gia phòng chống Covid-19. Đánh giá một số chỉ số sinh học trên hệ tim mạch và nội tiết ở các đối tượng nghiên cứu trên. Tổng quan tài liệu Tổng quan tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới và việt nam 2.
Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới Cuối tháng 12 năm 2019, một đợt bùng phát bệnh do coronavirus mới 2019 (Covid- 19) đƣợc ghi nhận đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc, hiện nay đã phát triển thành một đại dịch ảnh hƣởng đến tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chỉ trong một thời gian ngắn, Covid-19 trở thành một khủng hoảng to lớn và tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, khiến nhiều ngƣời tử vong, nhiều nƣớc đứng trên bờ khủng hoảng y tế. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tính đến ngày 30/10/2022 có 635. 634 ngƣời mắc; 6,5 triệu ngƣời tử vong [1]. Đại dịch viêm đƣờng hô hấp cấp do chủng mới của virus corona kéo dài cho tới nay trên 223 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tất cả các yếu tố trên do đại dịch Covid-19 đã gây ra áp lực tâm lý không nhỏ đối với ngƣời dân trên toàn thế giới [38]. Các vấn đề sức khỏe tâm thần nhƣ lo âu, stress và trầm cảm là phổ biến ở công chúng, đặc biệt là đội ngũ nhân viên y tế đã phải chịu áp lực rất lớn trƣớc số ca mắc và tử vong lớn chƣa từng thấy trong lịch sử y văn. Tình hình đại dịch Covid-19 tại Việt Nam Đợt dịch đầu tiên đƣợc tính từ ngày 22/01/2020 đến 22/7/2020, cả nƣớc ghi nhận 415 ca Covid-19 (309 F0 trong nƣớc và 106 F0 nhập cảnh), không có bệnh nhân tử vong. Kể từ đầu dịch đến nay (20/12/2022) Việt Nam có 11.367 ca nhiễm, đứng thứ 13/230 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 117/230 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu ngƣời có 116.Ngày 20/6/2022 tại Hội nghị trực tuyến với các địa phƣơng trong toàn quốc về công tác y tế và phòng, chống dịch, Bộ Y tế cho biết với diễn biến dịch bệnh Covid-19 trên thế giới trên thế giới, thời gian gần đây, biến thể Omicron đã ghi nhận chiếm chủ đạo với các nhánh phụ BA.2; trong khi biến thể phụ BA.5 đã ghi nhận ở nhiều quốc gia có nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam và có thể dẫn đến sự gia tăng các ca mắc Covid-19 trong thời gian tới [2],[19].
Tình hình chống dịch tại thành phố Hồ Chí Minh và ảnh hưởng của đại dịch Covid- 19 trên đội ngũ nhân viên y tế tuyến đầu Đại dịch Covid-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23 tháng 1 năm 2020. Đây cũng là nơi có ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam. Tối ngày 24 tháng 3, Bộ Y tế công bố thêm 11 ca mắc Covid-19, trong đó có 4 ca ở TP. Hồ Chí Minh.
Cho đến cuối tháng 3 năm 2020, số ca xác định nhiễm Covid-19 tại thành phố này là 47 trƣờng hợp, với 10 trƣờng hợp đã xuất viện. Thành phố Hồ Chí Minh bƣớc vào tháng 4 với thực hiện giãn cách 14 ngày theo chỉ thị 16. Lúc này các y bác sĩ từ khắp mọi miền đất nƣớc dồn lực hỗ trợ Miền Nam.000 chuyên gia, y bác sĩ cùng hàng tấn trang thiết bị hiện đại, đồng bộ đã đƣợc Bộ Y tế huy động vào TP HCM và các tỉnh phía Nam chống dịch Covid-19.Tổng nhân lực y tế tham gia hỗ trợ chống dịch tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là gần 24 nghìn ngƣời; ƣớc tính có khoảng 2.300 nhân viên y tế bị lây nhiễm.
6 Ngành y tế đã và đang khẳng định đƣợc tâm thế, vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trƣớc tính mệnh và sức khoẻ của ngƣời dân. Trong một thời gian ngắn, chúng ta triển khai hàng chục bệnh viện dã chiến, hàng trăm trạm y tế lƣu động để thu dung, điều trị BN, giảm chuyển nặng, giảm tử vong, trong khi nếu điều kiện bình thƣờng sẽ mất rất nhiều thời gian để thực hiện. Ảnh hưởng đến tuyến đầu của đội ngũ chống dịch Hai vấn đề có thể xuất hiện ở nhóm nhân viên y tế tuyến đầu bao gồm: Tổn thƣơng đạo đức (Moral Injury): Đây là tình trạng nội tâm của nhân viên y tế bị xung đột khi phải chứng kiến hoặc đƣa ra quyết định liên quan tính mạng bệnh nhân. Họ phải đối mặt với những tình huống chọn lựa dẫn đến kết quả tiêu cực.
Những quyết định này đôi khi mâu thuẫn với giá trị đạo đức của họ hay chuẩn mực hành nghề. Kiệt sức nghề nghiệp cũng là một trong những yếu tố liên quan vấn đề này. [2] Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế và sinh viên y 2. Một số nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế và sinh viên y trên thế giới và Việt Nam Một số nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu gần đây cho thấy trong thời kỳ dịch Covid-19, các vấn đề sức khỏe tâm thần nhƣ sợ hãi, lo lắng và trầm cảm là phổ biến ở công chúng, bệnh nhân, nhân viên y tế, trẻ em và ngƣời lớn tuổi tại Trung quốc.
Một nghiên cứu về ảnh hƣởng của dịch Covid-19 đến giáo dục của UNESCO nhằm kiểm tra sức khỏe tâm thần của 89.588 sinh viên đại học trong thời kỳ dịch Covid-19 ở Trung Quốc đã đƣa ra một số bằng chứng lý thuyết về sự can thiệp tâm lý của sinh viên đại học [35]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm theo nhiều hƣớng và trên nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ: công nhân, học sinh - sinh viên, các nhân viên y tế - ngƣời trực tiếp hay gián tiếp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân… [20], [24], [28], [32]. Đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhân viên y tế. Một nghiên cứu của Stephen X Zhang (2020) báo cáo sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, lo lắng, trầm cảm, đau khổ và sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế ở Iran khi quốc gia này phải đối mặt với số ca nhiễm Covid-19 ở thời kỳ đỉnh điểm.
Trong một mẫu gồm 304 nhân viên y tế (bác sĩ, y tá, bác sĩ X quang, kỹ thuật viên, v.), chúng tôi nhận thấy một phần khá lớn đạt đến mức giới hạn của các rối loạn lo âu (28,0%), trầm cảm (30,6%) và đau khổ (20,1%). Nghiên cứu này giúp xác định các nhân viên y tế cần trợ giúp có mục tiêu hơn vì nhân viên y tế ở nhiều quốc gia đang phải đối mặt với đỉnh điểm về số ca Covid-19 của họ [31]. Xingyue Song nghiên cứu năm 2020. Điều tra tổng 14.825 bác sĩ và y tá ở 31 tỉnh của Trung Quốc đại lục cho thấy tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) lần lƣợt là 25,2% và 9,1% [30].
Yiming Liang nghiên cứu trên 899 nhân viên y tế tuyến đầu và 1104 ngƣời đƣợc hỏi trong dân số nói chung đã tham gia. Nhìn chung, 30,43%, 20,29% và 14,49% nhân viên y tế tuyến đầu ở tỉnh Hồ Bắc và 23,13%, 13,14% và 10,64% nhân viên y tế tuyến 7 đầu ở các khu vực khác lần lƣợt báo cáo các triệu chứng trầm cảm, lo lắng và mất ngủ [24]. Wenning Fu và cộng sự nghiên cứu tổng số 89.588 sinh viên đại học kết quả có 36.