Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và định nghĩa Nghiên cứu này sử dụng một số khái niệm và định nghĩa theo các văn bản bao gồm: Luật số 03/2007/QH12 của Quốc Hội ban hành ngày 21/11/2007 về Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm [32]; Quyết định 1344/QĐ-BYT ngày 25/3/2020 của Bộ Y tế, Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (Covid-19) [9]; Quyết định số 343/QĐ-BYT ngày 07 tháng 02 năm 2020 của Bộ Y tế, Quyết định về việc ban hành “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut Corona (nCoV)” [10] như sau: - Bệnh truyền nhiễm: Là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. - Tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: Là vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm có khả năng gây bệnh truyền nhiễm. - Trung gian truyền bệnh: Là côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và các vật khác mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm và có khả năng truyền bệnh.
- Người mắc bệnh truyền nhiễm: Là người bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có biểu hiện triệu chứng bệnh. - Người mang mầm bệnh truyền nhiễm: Là người mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhưng không có biểu hiện triệu chứng bệnh. 4 - Người tiếp xúc: Là người có tiếp xúc với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh và có khả năng mắc bệnh. - Người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm: Là người tiếp xúc hoặc người có biểu hiện triệu chứng bệnh truyền nhiễm nhưng chưa rõ tác nhân gây bệnh.
- Giám sát bệnh truyền nhiễm: Là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình, chiều hướng của bệnh truyền nhiễm, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm. - An toàn sinh học trong xét nghiệm: Là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu hoặc loại trừ nguy cơ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm trong cơ sở xét nghiệm, từ cơ sở xét nghiệm ra môi trường và cộng đồng. - Vắc xin Là chế phẩm chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch, được dùng với mục đích phòng bệnh. - Sinh phẩm y tế Làsản phẩm có nguồn gốc sinh học được dùng để phòng bệnh, chữa bệnh và chẩn đoán bệnh cho người.
- Tình trạng miễn dịch Là mức độ đề kháng của cá nhân hoặc cộng đồng với một tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. - Dịch bệnh Là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định. Thang Long University Library 5 - Vùng có dịch Là khu vực được cơ quan có thẩm quyền xác định có dịch. - Vùng có nguy cơ dịch Là khu vực lân cận với vùng có dịch hoặc xuất hiện các yếu tố gây dịch.
- Cách ly y tế Là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh. - Xử lý y tế Là việc thực hiện các biện pháp sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế, cách ly y tế, tẩy uế, diệt tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh và các biện pháp y tế khác. - Bệnh truyền nhiễm nhóm A Nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bại liệt; bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la (Ebola), Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh; - Vi rút Corona nCoV Vi rút Corona (CoV) là một họ vi rút lây truyền từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường đến các tình trạng bệnh nặng, đe dọa tính mạng của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS- CoV) năm 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) năm 2012 [9].
Virut SARS-CoV-2 và dịch Covid-19 Theo Quyết định số 1344/QĐ-BYT, Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (Covid-19) của Bộ Y tế, ban hành ngày 25/3/2020 [9]. Nguồn gốc, đường lây của virut SARS-CoV-2 Từ tháng 12 năm 2019, một chủng vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác định là căn nguyên gây dịch viêm đường hô hấp cấp tính (Covid-19) tại thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau đó lan rộng ra toàn Trung Quốc và hầu hết các nước trên Thế giới. Chủng SARS-CoV-2 ngoài lây truyền từ động vật sang người, còn có khả năng lây trực tiếp từ người sang người chủ yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường tiếp xúc. Vi rút cũng có khả năng lây truyền qua khí dung (aerosol) trong không khí, đặc biệt tại các cơ sở y tế.
Cho tới nay, lây truyền theo đường phân-miệng chưa có bằng chứng rõ ràng. Người dân ở mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc chủng mới của vi rút Corona. Tuy nhiên, người cao tuổi, người có bệnh mãn tính (như hen phế quản, tiểu đường, bệnh tim mạch,…) dễ bị mắc và bệnh thường nặng hơn. Trường hợp bệnh liên quan Covid-19 1.
Trường hợp bệnh nghi ngờ Bao gồm các trường hợp: Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính và không lý giải được bằng các căn nguyên khác và/hoặc có tiền sử đến/qua/ở/về từ vùng dịch tễ có bệnh Covid-19 trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các triệu chứng. Hoặc Người bệnh có bất kỳ triệu chứng hô hấp nào và tiếp xúc gần với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định Covid-19 trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các triệu chứng. * Vùng dịch tễ: được xác định là những quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi nhận ca mắc Covid-19 lây truyền nội địa (local transmission), hoặc nơi có ổ dịch Thang Long University Library 7 đang hoạt động tại Việt Nam theo “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống Covid-19” của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế dự phòng [10]. *Tiếp xúc gần bao gồm: - Tiếp xúc tại các cơ sở y tế: trực tiếp chăm sóc người bệnh Covid-19; làm việc cùng với nhân viên y tế mắc Covid-19; tới thăm người bệnh hoặc ở cùng phòng có người bệnh mắc Covid-19.
- Tiếp xúc trực tiếp trong khoảng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc Covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh. - Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc Covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh. - Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh. - Cùng nhóm: du lịch, công tác, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp.
với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh. - Di chuyển trên cùng phương tiện (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau hai hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc Covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh. Trường hợp bệnh xác định Là trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc bất cứ người nào có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được thực hiện bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định. Triệu chứng lâm sàng 1.
Lâm sàng - Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày. - Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ. Một số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy. Xét nghiệm khẳng định căn nguyên Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật Real-Time RT-PCR hoặc giải trình 8 tự gene từ các mẫu bệnh phẩm.
Điều tra, giám sát, xét nghiệm và báo cáo ca bệnh Covid-19 - Tất cả các cơ sở y tế cần tiến hành sàng lọc, phân loại và cách ly ngay khi phát hiện các ca bệnh nghi ngờ, hoặc xác định mắc Covid-19, - Các trường hợp bệnh nghi ngờ, cần làm xét nghiệm khẳng định căn nguyên. - Nhanh chóng lấy bệnh phẩm và gửi làm xét nghiệm xác định SARS-CoV-2 càng sớm càng tốt từ các ca bệnh trên, lây dịch đường hô hấp trên (dịch họng và dịch tỵ hầu) và khi mẫu bệnh phẩm dịch đường hô hấp trên âm tính nhưng vẫn nghi ngờ về lâm sàng, cần lấy dịch đường hô hấp dưới (đờm, dịch hút phế quản, dịch rửa phế nang). Nếu người bệnh thở máy có thể chỉ cần lấy dịch đường hô hấp dưới. Trong trường hợp cần thiết và nghi ngờ thì có thể lấy máu và mẫu phân.
- Trường hợp xác định mắc Covid-19, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch hô hấp và xét nghiệm nhắc lại với khoảng cách mỗi 2-4 ngày hoặc ngắn hơn nếu cần thiết cho tới khi kết quả âm tính. - Những trường hợp bệnh nghi ngờ, kể cả ở những trường hợp đã xác định được tác nhân thông thường khác, cần làm xét nghiệm khẳng định để xác định SARS-CoV-2 ít nhất một lần. - Cần thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng và thăm dò thường quy tùy từng tình trạng người bệnh để chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi người bệnh. - Những trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cần báo cáo Bộ Y tế hoặc trung tâm Kiểm soát bệnh tật địa phương.
- Xác định về mặt dịch tễ học liên quan đến các trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 như: nơi sinh sống, nơi làm việc, đi lại, lập danh sách những người đã tiếp xúc trực tiếp, tuân thủ theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống Covid-19 của Bộ Y tế. Thang Long University Library 9 1. Dự phòng lây nhiễm Covid-19 1. Dự phòng lây nhiễm Covid-19 tại cơ sở y tế 1.
Các biện pháp dự phòng lây nhiễm tức thì Dự phòng lây nhiễm là một bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh mắc Covid-19, do vậy cần được thực hiện ngay khi người bệnh tới nơi tiếp đón ở các cơ sở y tế. Các biện pháp dự phòng chuẩn phải được áp dụng ở tất cả các khu vực trong cơ sở y tế. Tại khu vực sàng lọc và phân loại ca bệnh - Cho người bệnh nghi ngờ đeo khẩu trang và hướng dẫn tới khu vực cách ly.