Chương 1-Chương này trình bày nội dung tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Từ đó có cái nhìn tổng quát về bài nghiên cứu. -Chương 2-Chương này tập trung trình bày về cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện trước đó về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM. -Chương 3- Trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm được nêu ra ở trong chương 2, thì trong chương 3 này nêu lên phương pháp nghiên cứu, tập trung xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập và mô tả dữ liệu, nêu lên các giả thuyết trong mô hình.
-Chương 4- Trên cơ sở đưa ra mô hình nhiên cứu và phương pháp nghiên cứu ở chương 3, chương 4 sẽ trình bày kết quả của việc phân tích dữ liệu, kết quả phân tích ma trận tương quan của các biến giải thích, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, kiểm định phương sai của sai số không đổi. Từ đó chương này sẽ phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để tìm ra biến độc lập nào có ý nghĩa trong mô hình nghiên cứu và có mức độ tác động như thế nào đến biến phụ thuộc. -Chương 5- Từ kết quả được trình bày và phân tích trong chương 4, tác giả sẽ đưa ra kết luận chính trong chương 5 cũng như nêu ra những gợi ý, đóng góp cũng như mặt còn hạn chế của bài nghiên cứu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.Cơ sở lý thuyết về thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM 2.Bản chất và ý nghĩa của thu nhập lãi cận biên Thu nhập lãi cận biên hay còn gọi là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) được đo bằng chênh lệch giữa thu thu nhập từ lãi cho vay và chi phí từ lãi tiền gửi trên tổng tài sản (Rose, 1999).
Nó thể hiện hiệu quả trong việc điều hành của cấp quản trị trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (nguồn thu chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và thu từ phí dịch vụ….) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi…). Thu nhập lãi - chi phí lãi Thu nhập lãi cận biên = Tài sản sinh lời bình quân Nguồn: Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, 1999 Theo Rose (1999) thì thu nhập lãi cận biên được tính theo kỳ hạn 1 năm, 6 tháng hoặc quý, được đo bằng đơn vị phần trăm. Thu nhập từ lãi là tổng thu nhập từ các khoản cho vay, đầu tư tài chính. Còn chi phí lãi chủ yếu là chi phí phát sinh từ các khoản huy động vốn.
Hiệu số của thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi là thu nhập lãi thuần. Theo quy định số 06/2008/QĐ-NHNN quy định về việc xếp loại NHTM cổ phần thì tài sản có sinh lời bình quân là tổng khoản mục tài sản “có” có khả năng sinh lời của tổ chức tín dụng bao gồm các khoản mục sau đây trên bảng cân đối kế toán hợp nhất đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập của NHTM cổ phần: Tiền, vàng gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác, chứng khoáng kinh doanh, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, góp vốn, đầu tư dài hạn, bất động sản đầu tư. Những tài sản nào là tài sản có sinh lời trong kỳ sẽ được các NHTM quy ước tại bảng thuyết minh báo cáo tài chính (Jeff Madura, 2011). Như vậy, thu nhập lãi cận biên là tỷ số 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào (Golin, 2001).
Ý nghĩa của chỉ số thu nhập lãi cận biên Thu nhập lãi cận biên là một trong những thước đo quan trọng để đo lường hiệu quả tài chính, khả năng sinh lời của một ngân hàng. Chỉ số này cho ta thấy năng lực của ngân hàng trong việc đảm bảo sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí. Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng sẽ kiểm soát được tài sản nào có khả năng sinh lời tốt nhất, từ đó phân bổ tài sản vào các tài sản sinh lời đó, mang lại thu nhập từ lãi vay trong kỳ tốt nhất do hoạt động huy động vốn và cho vay hiệu quả. Vì vậy thu nhập lãi cận biên là tỷ số rất quan trọng để tìm hiểu những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh thu nhập giữa các ngân hàng.Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) được thực hiện trước đây đã tạo nên tiền đề và cơ sở cho rất nhiều cuộc nghiên cứu sau này về thu nhập lãi cận biên.
Kết quả nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) đã chỉ ra rằng thu nhập lãi cận biên phụ thuộc vào bốn yếu tố đó là: quy mô trung bình của giao dịch, mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường và chênh lệch giữa lãi suất cho vay-huy động. Kế thừa mô hình nghiên cứu của Ho và Saunders (1981), nghiên cứu của Ugus & Erkus (2010), Hamadi & Awdeh (2012), Gounder & Sharma (2012), nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015), thì tác giả đưa ra các nhân tố để phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập lãi cận biên như sau: Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và tốc độ tăng trưởng GDP.Bằng chứng thực nghiệm 2.Các nghiên cứu ngoài nước Hamadi và Awded (2012) đã có bài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại ở Lebanon giai đoạn 1996- 2009. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng và sử 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng mô hình FEM để giải thích kết quả. Kết quả của nghiên cứu cho thấy thu nhập lãi cận biên khác nhau giữa các ngân hàng ngoài nước và trong nước.
Các yếu tố quy mô ngân hàng, khả năng thanh khoản và tỷ trọng chi phí quản lý của ngân hàng, tăng trưởng GDP, rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều đến thu nhập lãi cận biên. Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các nhân tố như tốc độ tăng trưởng tiền gửi, quy mô hoạt động cho vay, lạm phát, lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương, lãi suất liên ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, riêng yếu tố quy mô vốn chủ sở hữu không có ý nghĩa thống kê trong mô hình. Bên cạnh đó kết quả cũng cho thấy biên độ lãi suất giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài là khác nhau. Garza-Garcia (2010) có bài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của 14 nước đã và đang phát triển trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments) và kết quả đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, thanh toán lãi suất ngầm có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, các yếu tố tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, tăng trường GDP có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên. Riêng các yếu tố chi phí cơ hội của dự trữ, tỷ lệ lạm phát, thuế suất, quy mô ngân hàng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình. Gounder và Sharma (2012) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng ở Fiji, một đảo nhỏ ở quốc gia đang phát triển ở Nam Thái Bình Dương giai đoạn 2000-2010. Nghiên cứu chủ yếu dựa trên mô hình nghiên cứu của Ho và Saunders (1981).
Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng để kiểm định tính không đồng nhất và các giả định với ba phương pháp OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM, sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy NIM có mối quan cùng chiều với lãi suất, chi phí hoạt động, sức mạnh thị trường và rủi ro tín dụng và có mối quan hệ ngược chiều với chất lượng quản lý và rủi ro thanh khoản, nguồn vốn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của ngân hàng và chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu. Kasman & cộng sự (2010) đã nghiên cứu tác động của cải cách tài chính lên thu nhập lãi cận biên của NHTM của các nước thành viên EU giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006. Tác giả đã sử dụng dữ liệu bảng không cân đối với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát GLS và dùng mô hình FEM để giải thích kết quả.
Kết quả đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, tăng trường GDP và tỷ trọng chi phí quản lý có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập lãi cận biên. Các yếu tố chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro mặc định, an toàn vốn, thanh toán lãi suất ngầm, quy mô tiền gửi có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với thu nhập lãi cận biên. Urgur & Erkus (2010) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của 22 ngân hàng thương mại ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1988 đến năm 2007. Mô hình sử dụng các biến độc lập gồm biến quy mô ngân hàng, độ e ngại rủi ro, chất lượng tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị phần ngân hàng, chi phí hoạt động, chi phí nhân viên, chất lượng quản lý, biến động lãi suất, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và biến phụ thuộc là thu nhập lãi cận biên.