chương 1 cũng đã nêu rõ về phương pháp nghiên cứu, cũng như bố cục của khóa luận. Đây cũng chính là cơ nền tảng để thực hiện các nội dung tiếp theo của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về sự ổn định tài chính của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chính thức về sự ổn định tài chính của ngân hàng thương mại. Bên cạnh các khái niệm về sự ổn định tài chính do Ngân hàng Trung ương tại các quốc gia lập ra, nhiều bài nghiên cứu cũng tiến hành đưa ra các quan điểm về sự ổn định tài chính của ngân hàng từ nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo (European central bank, 2014), ổn định tài chính là khả năng tổ chức tài chính linh hoạt trong các biến đổi của nền kinh tế, giảm thiểu được những tác động tiêu cực cho quá trình chuyển đổi nguồn lực sang hoạt động đầu tư hiệu quả hơn. Ngoài ra, ECB cũng cho rằng một ngân hàng ổn định tài chính khi đáp ứng đủ các yếu tố sau: (i) Có thể phân bổ nguồn tiền hiệu quả từ kênh tiết kiệm sang kênh đầu tư; (ii) Đánh giá và xác định tốt các rủi ro tương lai một cách chính xác để có thể đề ra biện pháp kịp thời; (iii) Có khả năng hấp thụ các cú sốc kinh tế hoặc các biến động trong thị trường hoạt động. Deutsche Bundesbank (2003) cho rằng ổn định tài chính là tình trạng các tổ chức tài chính có thể thực hiện tốt các chức năng kinh tế chủ yếu và duy trì các chức năng đó trong mọi bối cảnh kinh tế Theo (Andrew Crockett, 1997) ổn định tài chính của ngân hàng đồng nghĩa với việc các Ngân hàng TMCP không phải chịu áp lực tài chính về hữu hình lẫn vô hình. Đặc biệt, sự bất ổn của ngân hàng có khả năng lan tỏa các rủi ro đến toàn bộ hệ thống tài chính.
Từ đó gây ra hệ quả tiêu cực cho các đối tượng khác và sự bất ổn định cho toàn bộ nền kinh tế. Theo nghiên cứu của Alexandra Lai (2002), ổn định tài chính là ngược lại của tình trạng bất ổn tài chính. Nghiên cứu cho rằng tình trạng bất ổn tài chính của ngân hàng đến từ mất thanh khoản do nhu cầu thanh toán ngắn hạn tăng đột ngột và vượt 8 quá dự trữ của ngân hàng. Nguyên nhân ngân hàng mất thanh khoản có thể do tài sản khó quy đổi thành tiền mặt, nợ xấu tăng cao và nguồn tiền duy trì hoạt động chủ yếu đến từ nguồn vốn huy động.
Nên khi nhận được các thông tin xấu về ngân hàng, khách hàng có xu hướng rút tiền mặt để đảm bảo an toàn tài chính cho bản thân. Từ đó dẫn đến ngân hàng thiếu hụt nguồn tiền hoạt động và gia tăng tỷ lệ phá sản của ngân hàng. Nout Welink (2002) cho rằng, một hệ thống tài chính ổn định khi có khả năng phân bổ hiệu quả các nguồn lực và hấp thụ những cú sốc, từ đó bảo vệ nền kinh tế và hệ thống tài chính khỏi những tác động bất lợi. Ngoài ra, hệ thống tài chính đó cũng không được là nguồn phát sinh các cú sốc.
Theo Jahn & Kick (2012), sự ổn định của ngân hàng có thể được định nghĩa là trạng thái duy trì hoạt động hiệu quả ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng. Điều này bao gồm khả năng phân bổ nguồn lực hợp lý để duy trì hoạt động và thanh khoản của ngân hàng; phân tán rủi ro nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực; phân bổ lợi nhuận hợp lí, đảm bảo cho lợi ích của các bên liên quan. Theo Ozili (2018), tỷ lệ mất khả năng thanh toán và sự ổn định của ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều. Đồng nghĩa với việc tỷ lệ mất khả năng thanh toán giảm thì sự ổn định của ngân hàng tăng và ngược lại.
Ngoài ra, tác giả còn cho rằng các ngân hàng mất khả năng thanh toán là các ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ nợ vào mỗi cuối quý. Nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và c. Đồng thời, ngân hàng cũng có khả năng hấp thụ các cú sốc kinh tế ở giai đoạn đầu để hạn chế lây lan gây ra khủng hoảng hệ thống. 9 Tóm lại, ổn định tài chính của NHTM chính là khả năng ngân hàng vận hành ổn định, duy trì hiệu quả hoạt động trước các tác động tiêu cực của thị trường và bản thân nó không phải là nguyên nhân của cú sốc kinh tế.2 Phương pháp đo lường Hiện này có 3 phương pháp đo lường sự ổn định tài chính như sử dụng mô hình CAMELS, mô hình KMV-Merton, chỉ số Z-score.
Trong số đó, phương pháp đo lường phổ biến và tối ưu nhất là sử dụng biến phụ thuộc Z-score làm biến đại diện cho sự ổn định tài chính của ngân hàng. a) Mô hình CAMELS: Mô hình CAMELS được Cục dữ trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) công bố vào năm 1979 nhằm đánh giá sự ổn định của các tổ chức tài chính. Ban đầu mô hình chỉ phổ biến tại Mỹ sau đó lan rộng ra toàn cầu. CAMELS bao gồm 6 nhân tố chính như sau: C - Capital Adequacy (an toàn vốn): Mọi ngân hàng hoạt động trong thị trường đều phải đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu theo quy định của NHNN.
Mức độ an toàn vốn của ngân hàng thường được đo lường thông qua tỷ lệ CAR, nghĩa là tỷ lệ VCSH trên TTS và tỷ lệ này càng cao thì càng ít nguy cơ phá sản. A - Asset Quality (Chất lượng tài sản): Một ngân hàng muốn ổn định thì phải đảm bảo các khoản vay có đủ tiêu chuẩn và các tài sản của ngân hàng có giá trị thanh khoản cao. Vì nếu ngân hàng có quá nhiều nợ xấu sẽ phải trích lập dự phòng và dẫn đến thiếu hụt vốn cho hoạt động kinh doanh. Các chỉ số điển hình để đo lường yếu tố này điển hình là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL - Non-Performing Loan), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (DAR - Debt to Asset raito),.
M – Management (Quản lý) : Đây cũng là một yếu tố quan trọng góp phần gia tăng tính ổn định cho ngân hàng. Dưới sự kiểm soát của đội ngũ quản lý dày dặn kinh nghiệm, ngân hàng có thể giảm thiểu các rủi ro và đón đầu xu hướng thị trường. Từ đó, đưa ra các chiến lược phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu KH, gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng. Đồng thời, các nhà quản lý cũng cần có khả 10 năng phân bổ nguồn lực phù hợp, tận dụng triệt để các tiềm lực từ nhà đầu tư, đối tác,.
E – Earnings (Thu nhập): Mục đính chính của mọi tổ chức khi hoạt động trong nền kinh tế là tạo ra lợi nhuận. Thông qua lợi nhuận, các nhà đầu tư có thể đánh giá một phần hiệu quả hoạt động của ngân hàng và khả năng ngân hàng quản lý các nguồn vốn để sinh lời. Yếu tố này thường được đánh giá thông qua tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity), tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA - Return on Assets), biên lợi nhuận ròng (NIM - Net Interest Margin), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS - Return on Sales),. L – Liquidity (Thanh khoản): Mất thanh khoản chính là nguyên nhân hàng đầu khiến ngân hàng phá sản.
Vì vậy, cần xem xét các khoản tương đương tiền của ngân hàng một cách chặt chẽ và các tài sản đảm bảo có bù đắp được rủi ro KH không thực hiện nghĩa vụ nợ. Tính thanh khoản của ngân hàng thường được đo lường thông qua các yếu tố như tỷ lệ thanh toán nhanh (Quick raito), tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR - Liquidity Coverage Ratio),. S – Sensitivity to market risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Yếu tố này phản ánh mức độ mà những thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá hàng hóa hoặc giá cổ phiếu có thể ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập hoặc vốn của tổ chức tài chính. Đối với hầu hết các NHTM, rủi ro thị trường chủ yếu phản ánh khả năng thay đổi lãi suất trước các biến động của thị trường.
b) Mô hình KMV-Merton Mô hình KMV-Merton được công ty KMV phát triển dựa trên mô hình Merton cổ điển nhằm dự báo nguy cơ phá sản của một doanh nghiệp. Thông qua mô hình ta có thể xác định khả năng vỡ nợ của ngân hàng, nếu ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ cao thì khả năng ổn định tài chính thấp và ngược lại. Dựa trên lý thuyết định giá quyền chọn, mô hình này cho rằng trong 1 khoảng thời gian nhất định, VCSH được xem như quyền chọn trên giá trị tài sản, nghĩa là các nghĩa vụ nợ cao hơn giá trị tài sản thì 11 NHTM đó sẽ có nguy cơ vỡ nợ. Đồng thời, khi giá trị tài sản giảm qua điểm vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phá sản.
Để đo lường khả năng vỡ nợ của ngân hàng trong chuỗi thời gian đến thời điểm đáo hạn T, mô hình Merton sử dụng 6 biến sau: giá trị tài sản tại thời điểm hiện tại; sự phân phối của giá trị tài sản tại thời điểm t (tài sản ngắn hạn và dài hạn), sự biến động giá trị tương lai của tài sản tại thời điểm T, mức độ điểm vỡ nợ, giá trị sổ sách của nợ, tốc độ tăng trưởng dự báo của giá trị tài sản trong chuỗi giai đoạn, độ dài khoảng thời gian T. Điểm mạnh của mô hình này là các tính toán thực nghiệm và kiểm định đều dựa trên cơ sở dữ liệu lớn ở hiện tại, giúp dự báo các tình huống trong tương lai tốt hơn. Tuy nhiên, kỹ thuật đo lường của mô hình khá phức tạp và không thể áp dụng nếu không có giả định về phân phối chuẩn của giá trị tài sản công ty trong tương lai. (Nguyễn Đình Thiên & Nguyễn Chí Minh, 2017) c) Chỉ số Z-score Chỉ số Z-Score lần đầu được Altman công bố vào năm 1968 nhằm dự báo rủi ro phá sản của số lượng lớn các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau.
Chỉ số Z-score nguyên thủy được tính toán dựa vào 5 yếu tố: (i) tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản, (ii) tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản, (iii) tỷ lệ lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản, (iv) giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của tổng nợ, và (v) tỷ lệ doanh số bán trên tổng tài sản. Ngoài ra, Z-score cũng được sử dụng như một thước đo phổ biến để đánh giá toàn diện về sự ổn định tài chính của doanh nghiệp.