CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, có khá nhiều tác giả nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và sự lành mạnh của các NHTM. Các phương pháp được sử dụng ngày càng được nâng cao và phức tạp hơn để phù hợp với hệ thống tài chính không ngừng phát triển và biến động.
Angela Roman và Alina Camelia (2013) đo lường sức khỏe tài chính của 15 ngân hàng thương mại ở Romania từ 2004 – 2011 với tổng tài sản chiếm hơn 78% tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng thương mại của quốc gia. Tác giả thực hiện xếp hạng các thành phần của mô hình CAMELS, điểm CAMELS tổng thể được tính bằng điểm trung bình thứ hạng của 6 yếu tố thành phần. Riêng yếu tố thứ 6 chữ S được tác giả định nghĩa là quy mô của tổng tài sản. Tác giả dừng lại ở việc tính toán giá trị của các chỉ số, xếp hạng các thành phần và tính điểm trung bình của CAMELS thông qua điểm xếp hạng của các thành phần nhưng chưa xác định được từng thành phần chiếm bao nhiêu phần trăm trong việc tạo nên điểm trung bình CAMELS.
Thực hiện nghiên cứu đối với các ngân hàng truyền thống, ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động tại Baltic trong giai đoạn 2008 – 2016. Bên cạnh việc xếp hạng ngân hàng thông qua 6 thành phần của mô hình CAMELS, Daiva Jurevičienė và Viktorija Skvarciany (2016) bổ sung yếu tố thứ 7 – niềm tin của khách hàng (Trust - T) với kết quả nghiên cứu cho thấy niềm tin của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tích cực đến sự lành mạnh của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu xác định niềm tin khách hàng ảnh hưởng tích cực nhưng chưa xác định mức độ đóng góp của niềm tin khách hàng vào điểm tổng CAMELS+T chung của mô hình cũng như mức độ đóng góp của 6 yếu tố còn lại. Tu DQ Le (2017) thực hiện tính giá trị trung bình của các thành phần trong mô hình CAMELS cho 31 ngân hàng thương mại trong khoảng thời gian từ 2008 – 8 2013 và tiến hành xếp hạng các ngân hàng dựa vào giá trị đã tính toán.
Riêng với thành phần thứ 3 là chất lượng quản lý, tác giả sử dụng phương pháp DEA với thang điểm từ 0 đến 1 để xác định giá trị thể hiện cho yếu tố quản lý của các ngân hàng. Năm 2019, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến việc đánh giá mức độ lành mạnh của các ngân hàng tại các quốc gia khác nhau với nhiều phương pháp khác nhau. Tương tự với những nghiên cứu trước đây về phương pháp thực hiện, Georgios, K. (2019) cũng xếp hạng các ngân hàng theo 6 thành phần và xếp hạng điểm trung bình CAMELS để xác định thứ hạng của các ngân hàng về mức độ lành mạnh.
Nghiên cứu thực hiện với các ngân hàng ở Balkan trong giai đoạn từ 2009 – 2016. Phương pháp này được thực hiện tương tự trong bài nghiên cứu của AlAli, M. và Al-Yatama, S. Có những khác biệt với các tác giả nghiên cứu cùng năm, Fangyuan Guan và cộng sự (2019) bổ sung thêm tiêu chí tín dụng xanh vào mô hình CAMELS để nghiên cứu sự lành mạnh của 16 ngân hàng ở Trung Quốc từ 2013 – 2017.
Tác giả thực hiện tính trọng số của 7 thành phần trong mô hình CAMELS+G bằng phương pháp trọng số entropy. Trọng số của 7 thành phần trong mô hình CAMELS+G lần lượt là 14,22%, 10,87%, 1,37%, 34,79%, 16,82%, 3,6% và 18,34%. Cũng trong năm 2019, phân tích quan hệ xám (Grey Relational Analysis - GRA) được Abdul Basit và cộng sự sử dụng để xếp hạng các ngân hàng Hồi giáo ở Pakistan năm 2017 dựa trên các chỉ số của CAMEL. Các ngân hàng công nghệ tài chính và các ngân hàng truyền thống tại Nigeria được so sánh với nhau về mức độ lành mạnh thông qua việc chấm điểm, xếp hạng các chỉ số của mô hình CAMELS từ 2012 – 2018 được thực hiện bởi Ogbuji, I.
và cộng sự (2020). Nguyễn Thị Hồng Vân (2020) cũng xếp hạng 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2019 với phương pháp tương tự. Nguyễn Thị Hồng Vân và Trần Hùng Sơn (2021) thực hiện xếp hạng 28 ngân hàng thương mại Việt Nam đã công bố BCTC năm 2020 thông qua việc xếp hạng các thành phần của mô hình CAMELS và thứ hạng cuối cùng dựa trên điểm 9 trung bình của CAMELS. Phương pháp này cũng được thực hiện tương tự với ngân hàng PT Bank Aceh Syariah trước và sau khi chuyển đổi trong bài nghiên cứu của Ramadhan Razali và cộng sự (2021).
Đại dịch Covid – 19 có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tuy nhiên mức độ ảnh hưởng có sự khác nhau giữa các ngân hàng trong 8 ngân hàng tại Malaysia trong khoảng thời gian từ 2017 – 2021 tương ứng với thời gian trước và trong khi đại dịch Covid – 19 xảy qua bằng phương pháp xếp hạng các chỉ số thành phần của CAMEL theo Nurhuda Nizar và cộng sự (2023). (2023) sử dụng 2 phương pháp là mô hình CAMEL và hồi quy đa biến để xếp hạng 4 ngân hàng khu vực công và 4 ngân hàng khu vực tư nhân ở Ấn Độ trong giai đoạn 2005 – 2022 và xác định tác động của từng thành phần trong mô hình CAMEL đến hiệu quả của các ngân hàng. 11 ngân hàng tư nhân ở Iran được Ehsan Aghakarimia và cộng sự (2023) nghiên cứu trong giai đoạn tháng 9/2013 đến tháng 3/2020 bằng phương pháp Best Worst Method (BWM) để xác định trọng số của các thành phần trong mô hình CAMELS và đồng thời xếp hạng điểm của từng ngân hàng thông qua các chỉ số đại diện cho 6 thành phần của CAMELS. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm phương pháp DEA để tính điểm hiệu quả của các đơn vị ra quyết định.
Tựu chung lại, các nghiên cứu trước đây thường sử dụng mô hình CAMELS gồm 6 thành phần: chỉ tiêu vốn, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng sinh lời, thanh khoản và độ nhạy cảm với rủi ro thị trường với một số phương pháp phân tích khác nhau. Phương pháp phân tích thường được sử dụng là tính điểm các tỷ số đại diện cho các thành phần của mô hình CAMELS, sau đó thực hiện xếp hạng từng thành phần và xếp hạng điểm trung bình CAMELS tổng thể. Với tình hình thị trường tài chính – tiền tệ thay đổi nhanh chóng và có sự khác biệt giữa các quốc gia, việc thường xuyên đánh giá mức độ lành mạnh và đánh giá với phương pháp phù hợp với môi trường kinh tế ở tại mỗi quốc gia là điều cần thiết. Định nghĩa sự lành mạnh của NHTM Sự lành mạnh của một ngân hàng được đánh giá bởi các khía cạnh khác nhau thông qua các bộ chỉ số hoặc chỉ tiêu đánh giá như bộ chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs – Financial Soundness Indicators) của Quỹ tiền tệ quốc tế phản ánh tình trạng vốn, chất lượng tín dụng, mức độ tập trung tín dụng, khả năng sinh lời, thanh khoản và trạng thái ngoại tệ; bộ chỉ số an toàn vĩ mô (MPIs – Macro Prudential Indicators) của Ngân hàng Trung ương Châu Âu bao gồm 3 cấu phần (1) các yếu tố bên trong: đánh giá thông qua khả năng sinh lời, chất lượng bảng cân đối kế toán, mức độ đủ vốn; (2) các yếu tố tác động bên ngoài: như tác động từ thị trường tài chính, tác động về giá của tài sản, chu kỳ tiền tệ; và (3) các yếu tố lan truyền: đánh giá tác động của sự lan truyền rủi ro trên thị trường liên ngân hàng; bộ chỉ tiêu xếp hạng CAMELS được Cục dự trữ liên bang Mỹ phê duyệt vào tháng 11/1979 để xếp hạng mức độ lành mạnh của các ngân hàng thông qua vốn (ký hiệu là C), chất lượng tài sản (ký hiệu là A), chất lượng quản lý (ký hiệu là M), khả năng sinh lời (ký hiệu là E), thanh khoản (ký hiệu là L) và độ nhạy thị trường (ký hiệu là S).
Sau đó hệ thống CAMELS được sử dụng rộng rãi như một công cụ giám sát sự lành mạnh của các ngân hàng theo Doumpos, M. Mỗi quốc gia đều có một hệ thống xếp hạng các ngân hàng để đánh giá mức độ lành mạnh của họ. Ở hầu hết các quốc gia, bảng xếp hạng này dựa trên hệ thống CAMELS, hệ thống này có độ chính xác và độ tin cậy cao để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng và dự đoán những trở ngại trong tương lai (Salhuteru, F. Mô hình CAMELS trong đánh giá mức độ lành mạnh của các NHTM Mô hình CAMELS được phát triển bởi Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve) cùng với các cơ quan quản lý ngân hàng khác vào những năm 1970 và 1980.
Mô hình này được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ lành mạnh và ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại. CAMELS là viết tắt của sáu chỉ số chính mà mô hình này đánh giá, bao gồm: C – Capital Adequacy (Tính ổn định vốn); A – Asset Quality (Chất lượng tài sản); M – Management (Chất lượng quản 11 lý); E – Earnings (Khả năng sinh lời); L – Liquidity (Thanh khoản) và S – Sensitivity to market risk (Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường) 1. Chỉ số vốn (C) Mức độ an toàn vốn đánh giá vốn tự có của ngân hàng để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đảm bảo đầy đủ vốn và khả năng có được vốn khả dụng chính là xác định tình trạng lành mạnh của các định chế tài chính đối với cú sốc hay sức ép về bảng cân đối tài chính của các định chế tài chính.
Chỉ số chất lượng tài sản (A) Tài sản được hiểu là phần nguồn vốn được đưa vào sử dụng trong kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán cua một ngân hàng. Chất lượng tài sản là chỉ tiêu khái quát được khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của ngân hàng. Mức độ tin cậy của một tỷ lệ vốn phụ thuộc vào tính đáng tin cậy cả chỉ số chất lượng tài sản. Các rủi ro khả năng thanh toán của các định chế tài chính thường bắt nguồn từ việc giảm sút tài sản, vì vậy điều quan trọng là phải giám sát các chỉ số về chất lượng tài sản.
Chỉ số chất lượng quản lý (M) Công tác quản trị có tác động trực tiếp đến giá trị của ngân hàng, đồng thời cũng ảnh hương tới uy tín và hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng và nhà đầu tư.