Chương 1: Trình bày các định nghĩa và thước đo về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả hoạt động của ngân hàng; khái niệm đa dạng hóa thu nhập, cơ sở lý thuyết về mối quan hệ đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cùng các bằng chứng thực nghiệm có liên quan (2) Chương 2: Tác giả trình bày mô hình nghiên cứu, cách xác định các biến số, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. (3) Chương 3: Phân tích thực trạng đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động trong khu vực ngân hàng thương mại Việt Nam và các kết quả thực nghiệm nhằm giải đáp các mục tiêu nghiên cứu cụ thể. (4) Chương 4: Kết luận và cung cấp các giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. 11 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm và thƣớc đo hiệu quả của hoạt động ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Theo Coelli và cộng sự (2005), hiệu quả là năng lực hoạt động của ngân hàng khi đạt được mức sản lượng tối đa với đơn vị đầu vào cho trước. Như vậy, với hoạt động của các ngân hàng thương mại, hiệu quả được hiểu là mối liên hệ giữa các yếu tố đầu ra và các yếu tố đầu vào mà ngân hàng đã bỏ ra để đạt mức khả năng sinh lời mong muốn. Như vậy, có thể tạm chia hiệu quả thành hai nhóm như sau: nhóm hiệu quả tài chính và nhóm hiệu quả kỹ thuật.
Bản chất của hiệu quả tài chính chính là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất bao gồm các nguồn vật lực, nguồn tài chính để đạt được mức hiệu quả yêu cầu. La Porta và cộng sự (2002) định nghĩa hiệu quả hoạt động là mức độ hiệu quả kinh doanh tại một thời kỳ cụ thể, liên quan đến tổng thu nhập và lỗ trong thời kỳ cụ thể đó. Hiệu quả hoạt động cũng có thể được mô tả là thước đo chủ quan về cách một tổ chức kinh doanh sử dụng hợp lý tài sản của mình và tạo ra thu nhập hoặc doanh thu từ đó. Trong nghiên cứu của mình, Chenhall (2005) cho rằng hiệu quả hoạt động của một tổ chức có thể được đo lường bằng các thước đo tài chính hoặc phi tài chính hoặc cả hai.
12 Như Richardo và Wade (2001) gợi ý, các tổ chức kinh doanh thành công khi cho thấy lợi nhuận cao và điều này xuất phát từ việc thiết lập hệ thống quản lý hiệu quả. Hossan và Habib (2010) chỉ ra rằng khả năng sinh lời cho thấy hiệu quả hoạt động tổng thể của tổ chức kinh doanh, cách mà tổ chức sử dụng tài sản của mình và kiểm soát chi phí để tạo ra mức sinh lợi có thể chấp nhận được. Tạo ra lợi nhuận là khía cạnh cơ bản để mọi tổ chức kinh doanh hoạt động và phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, và do đó, điều này khiến mọi tổ chức kinh doanh nên ưu tiên hiểu rõ hiệu quả hoạt động của mình. Helen và Keasey (1999) lưu ý hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh nên được đo lường định kỳ để hình thành và hiểu được kỳ vọng của các nhà đầu tư về thu nhập tiềm năng trong tương lai của tổ chức; việc làm này mang lại các phản hồi về hiệu quả hoạt động của tổ chức, và cho biết liệu tổ chức có đang bám sát mục tiêu và nhiệm vụ hoạt động của mình hay không,từ đó, có cơ sởphù hợp để lập kế hoạch hướng đến các mục tiêu tổng thể khác và đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn.
Theo Rose và Hudgin (2008), hiệu quả kinh doanh của một tổ chức tài chính được đề cậpđến khi làm thỏa mãn nhu cầu của cổ đông, nhân viên, người gửi tiền, người đi vay và các đối tượng liên quan khác. Thành công của các tổ chức tài chính để đáp ứng sự mong đợi của cá nhân, tổ chức liên quan và được công bố thông qua báo cáo tài chính mà chủ yếu là các chỉ tiêu lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tài sản, giá trị cổ phiếu. Qua đó, lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như sự phát triển bền vững của một ngân hàng Nguyễn Việt Hùng (2008) cho rằng, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào để có được hiệu quả đặt ra cũng như khả 13 năng giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng dưới quan điểm của các cổ đông là thu được lợi nhuận bằng cách tối đa hóa doanh thu và giảm thiểu chi phí.
Hiệu quả hoạt động ngân hàng là bức tranh phản ánh sự thành công về mặt kinh tế của các hoạt động hiệu quả tạo ra lợi nhuận mà các ngân hàng đạt được trong một thời kỳ nhất định (Ayanda và cộng sự, 2013). Các lý thuyết kinh tế chỉ ra, trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, tối đa hóa lợi nhuận bằng tối thiểu hóa chi phí. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều yếu tố như thay đổi trong khuôn khổ quy định có thể ảnh hưởng đến việc đạt được hiệu quả mong muốn. Các yếu tố, giải thích cho sự sai lệch khỏi việc tối đa hóa lợi nhuận, có thể được gộp lại thành 2 nhóm: khuyến khích không chính xác (incorrect incentive) và kém hiệu quả (inefficiency) (Bikker và Bos, 2008).
Hiệu quả kinh tế của ngân hàng được đo lường bằng cách so sánh hiệu quả hoạt động với hiệu quả hoạt động tốt nhất mà ngân hàng có thể đạt được. Hiệu quả kinh tế, theo định nghĩa của Aigner và cộng sự (1977), đề cập đến khả năng của ngân hàng trong việc giảm thiểu chi phí hoặc tối đa hóa lợi nhuận. Tương tự, hiệu quả lợi nhuận được xác định bằng cách so sánh lợi nhuận của ngân hàng với mức lợi nhuận nhiều nhất mà ngân hàng có thể đạt được. Trong phạm vi nghiên cứu này, hiệu quả kinh doanh ngân hàng được xem là mức độ thành công mà ngân hàng đạt được trong việc tối ưu hóa các nguồn lực đầu vào để đạt mức tối đa vềkết quả đầu ra, thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận.
Các thƣớc đo hiệu quả hoạt động Tính hiệu quả trong hoạt động của một ngân hàng tại một thời điểm cụ thể có thể được đánh giá thông qua việc so sánh khả năng sinh lời hoặc thu nhập trong quá khứ của chính ngân hàng đó hoặc với các ngân hàng khác 14 trong cùng thời điểm so sánh (Katrodia, 2012). Zainuddin và cộng sự (2017) khẳng định khả năng sinh lời hay các thước đo lợi nhuận là thước đo đại diện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Menicucci và Paolucci (2016) nhấn mạnh ngân hàng hoạt động hiệu quả chỉ khi báo cáo được lợi nhuận từ năm này sang năm khác. Tất cả các thước đo hiệu quả, bất kể mục tiêu cụ thể của chúng, sử dụng dữ liệu kế toán và thị trường để đánh giá tình trạng tài chính của một tổ chức tại một thời điểm, cũng như để xác định xem tổ chức đó đã được quản lý tốt như thế nào trong một khoảng thời gian (Jianu và cộng sự, 2017).
Tóm lại, khả năng sinh lời có thể được sử dụng làm chỉ số tóm tắt về hiệu quả hoạt động (De Andres và Vallelado 2008; Liang và cộng sự 2018). Do vậy, trong nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động của ngân hàng được nhìn nhận dưới góc độ sinh lời, và được đo lường bởi các tỷ số sinh lời tài chính, đó là tỷ số ROA và ROE. Tỷ số này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đây khi đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập lên hiệu quả hoạt động (khả năng sinh lời) của các ngân hàng thương mại (Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh, 2016; Trần Hùng Sơn và cộng sự, 2020). Tỷ số ROA được xác định bởi tỷ số lợi nhuận ròng (sau thuế) trên tổng tài sản, phản ánh khả năng của ban quản lý ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính và đầu tư thực tế để tạo ra lợi nhuận (Hassan và Bashir, 2003).
Trong khi đó, tỷ số ROE được đo lườngbởi tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu, cho thấy hiệu quả quản lý để tạo ra thu nhập cho các cổ đông (Tram và cộng sự, 2021). Nói cách khác, tỷ số ROE cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng khi cho biết bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra với số tiền 15 mà các cổ đông đã đầu tư. Đối với bất kỳ ngân hàng nào, tỷ số ROA và ROE phụ thuộc vào các quyết định chính sách của ngân hàng cũng như các yếu tố không thể kiểm soát liên quan đến nền kinh tế và các quy định của chính phủ. Rivard và Thomas (1997) cho rằng khả năng sinh lời (hiệu quả hoạt động) của ngân hàng được đo lường tốt nhất bằng tỷ số ROA, vì tỷ số này không bị bóp méo bởi số nhân vốn chủ sở hữu cao.
Hơn nữa, tỷ số ROA có vẻ là thước đo tốt hơn về khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng đối với danh mục tài sản của mình. Về cơ bản, mối quan hệ giữa tỷ số ROE và ROA minh họa sự đánh đổi cơ bản mà các ngân hàng phải đối mặt giữa rủi ro và lợi nhuận; hệ số nhân vốn chủ sở hữu phản ánh các chính sách đòn bẩy hoặc tài trợ, tức là các nguồn (nợ hoặc vốn chủ sở hữu) được chọn để tài trợ cho ngân hàng. Các ngân hàng có đòn bẩy tài chính thấp hơn, do đó, vốn chủ sở hữu cao hơn, thường báo cáo tỷ số ROA cao hơn, nhưng tỷ số ROE thấp hơn. Athanasoglou và cộng sự (2008) cho rằng phân tích dựa trên tỷ số ROE không tính đến rủi ro liên quan đến đòn bẩy.
Tuy nhiên, Goddard và cộng sự (2004) sử dụng tỷ số ROE làm thước đo khả năng sinh lời của các ngân hàng, khi lập luận rằng đối với nhiều ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngoại bảng đóng góp đáng kể vào tổng lợi nhuận;thu nhập được tạo ra từ các hoạt động này được loại trừ khỏi mẫu số (tổng tài sản) của tỷ số ROA. Các yếu tố ảnh hƣởng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.