CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Công nghệ tài chính (Fintech) 1. Khái niệm Fintech Thuật ngữ ''Fintech'' là dạng rút gọn của từ “Financial technology” hay ''tài chính'' và ''công nghệ'', mô tả chung về sự kết nối của công nghệ internet hiện đại (ví dụ: điện toán đám mây, Internet di động) với các hoạt động kinh doanh của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính (ví dụ: dịch vụ tín dụng, giao dịch ngân hàng) (Gomber và cộng sự, 2017). Qua đó góp phần cung cấp các dịch vụ tài chính mới và cải tiến, mang lại hiệu quả vượt trội và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng (Thakor, 2020).
Bên cạnh đó, Hội Đồng Ổn định Tài chính đã tiến hành trao đổi việc ứng dụng những chính sách quan trọng vì mục tiêu ổn định tài chính từ Fintech trong một vài nghiên cứu gần đây. Trong hội nghị này, Fintech được định nghĩa là sự đổi mới mạnh mẽ trong các dịch vụ tài chính với sự hỗ trợ, giúp đỡ từ công nghệ, qua đó tạo ra các mô hình kinh doanh kiểu mới hay các quy trình, sản phẩm tích hợp công nghệ có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến hệ thống tài chính. Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF, 2018) cũng đã sử dụng định nghĩa này trong việc phân tích tổng quan sự phát triển của Fintech ở các khu vực Trung Á - Bắc Phi - Afghanistan - Caucasas, Trung Đông và Pakistan. Ngoài ra, theo Huffington Post, Fintech được định nghĩa là một ngành công nghiệp tài chính mới ứng dụng công nghệ vào kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính.
Hiện nay, thuật ngữ Fintech đã được mở rộng ra với đa dạng hàm ý khác nhau và vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất chung nào. Tuy nhiên, với đề tài này, nhóm nghiên cứu đưa ra định nghĩa Fintech như sau: Fintech là một ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ tân tiến để từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động. Trong đó, các công ty Fintech có thể dễ dàng cung cấp các ứng dụng thông minh, quy trình hiện đại, sản phẩm chất lượng và mô hình kinh doanh mới lạ trong ngành dịch vụ tài chính. Lịch sử phát triển của công nghệ tài chính trên thế giới Mối liên kết giữa công nghệ và hệ thống tài chính đã trải qua một thời gian phát triển dài, qua nhiều thời kỳ thăng trầm của lịch sử.B (2016), quá trình phát triển của công nghệ tài chính được chia thành 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đều có sự gắn kết với các cuộc CMCN rất chặt chẽ.
a) Giai đoạn đầu (từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX ) Đầu tiên là sự phát minh và ứng dụng của các công nghệ như máy hơi nước, đường sắt và điện báo đã hỗ trợ các liên kết tài chính giữa các quốc gia, cho phép các giao dịch, thanh toán quốc tế, thông tin tài chính truyền tải và thực hiện một cách nhanh chóng, tiện lợi. Các công nghệ này cũng được ngành tài chính cung cấp và hỗ trợ những nguồn lực cần thiết để dễ dàng phát triển. Bên cạnh đó, sự ra đời của các công cụ code - braker (IBM), đặc biệt là việc thiết lập một mạng telex toàn cầu chính là tiền đề thúc đẩy sự phát triển của công nghệ tài chính. Ngoài ra, việc thẻ tín dụng xuất hiện tại Mỹ lần đầu tiên vào năm 1950 và năm 1967 máy rút tiền tự động bắt đầu được triển khai tại Anh, đánh dấu cột mốc phát triển mới của Fintech, hệ thống kỹ thuật số thay thế hệ thống analogue cũ đã đặt dấu mốc cho giai đoạn phát triển thứ hai của công nghệ tài chính.
b) Giai đoạn thứ hai (từ năm 1980 đến năm 2008) Điểm nổi bật của giai đoạn thứ hai là toàn cầu hóa tài chính bắt đầu xuất hiện, tự động hóa tài chính tiến đến các cấp độ cao hơn do sự phát triển bùng nổ của CNTT. Toàn cầu hóa tài chính được ghi nhận qua ba dấu mốc quan trọng: Dấu mốc thứ nhất, thị trường tài chính ở Liên minh châu Âu hình thành từ năm 1986 từ việc thực hiện thống nhất Đạo luật châu Âu; quá trình tự do hóa tài chính “Big Bang” năm 1986 ở Anh đã tạo lập cơ sở cho việc kết nối toàn bộ thị trường tài chính EU hiện nay; Dấu mốc thứ hai, sự ra đời của hệ thống giao dịch NASDAQ đã thiết lập nên các giao dịch chứng khoán tự động ở Mỹ. Từ đó, kỷ nguyên của giao dịch chứng khoán cố định từ những năm 1600 đã kết thúc, thay vào đó là hoạt động giao dịch 16 chứng khoán điện tử hiện nay. Trong ngành ngân hàng, năm 1983 tại Anh và năm 1980 tại Mỹ đã thành lập ngân hàng trực tuyến đầu tiên; Dấu mốc thứ ba, Internet ra đời năm 1995 tạo ra bước phát triển đột phá của công nghệ tài chính khi Wells Fargo tiến hành triển khai dịch vụ kiểm tra tài khoản online bằng cách sử dụng World Wide Web.
Năm 2001 tại Mỹ, 8 ngân hàng đã có khoảng 1 triệu khách hàng trực tuyến. Đến năm 2005, lần đầu tiên xuất hiện các ngân hàng trực tuyến không có các chi nhánh hữu hình. Mặc dù vậy, giai đoạn này cũng gia tăng nhiều phức tạp, hạn chế và rủi ro vẫn còn tồn tại trong hệ thống quản lý trên máy tính, nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính châu Á giai đoạn 1997 - 1998 hay “Ngày thứ hai đen tối” trên thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1987. c) Giai đoạn thứ ba (từ 2008 đến nay) Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) trong giai đoạn thứ ba diễn ra cùng với cuộc CMCN 4.
Từ năm 2010, cuộc CMCN 4.0 đã nhen nhóm sự kết hợp của 3 lĩnh vực sinh học, công nghệ vật lý, kỹ thuật số, những đột phá công nghệ tân tiến trước đây chưa từng xuất hiện đã được kỳ vọng tạo ra nhờ sự kết hợp này. Sự phát triển mạnh mẽ của AI cùng với cuộc CMCN 4.0 giúp mô thức quản trị ở các ngân hàng trở nên hoàn thiện hơn và làm thay đổi hoàn toàn các sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng. Điều này là cơ hội đối với công ty tài chính công nghệ (Fintech), cũng là thách thức đối với hệ thống ngân hàng. The Global Fintech Index nghiên cứu, trên thế giới với hơn 7.000 công ty công nghệ tài chính (Fintech) đã đầu tư tổng giá trị hoạt động từ 60,2 tỷ USD năm 2017 lên đến 150,3 tỷ USD vào Fintech vào năm 2019 (tăng 250%) (Findexable, 2019).1 thể hiện giá trị hoạt động đầu tư của ba mảng trên thế giới.1: Giá trị hoạt động đầu tư cho công nghệ tài chính (Fintech) Đơn vị tính: tỷ USD 17 Hình 1.2: Số lượng hoạt động đầu tư cho công nghệ tài chính (Fintech) Đơn vị tính: số hợp đồng Nguồn: KPMG, 2020 Giai đoạn 2017-2019, hoạt động đầu tư Fintech trên thế giới có sự gia tăng về số lượng giao dịch đáng kể, năm 2017 có 2.914 giao dịch, năm 2018 tăng lên 3.639 giao dịch và đạt mốc 3.
Năm 2019, giá trị đầu tư vào các hoạt động mua bán - sáp nhập chiếm gần 60% tổng giá trị đầu tư vào Fintech trên thế giới. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trong 6 tháng đầu năm 2020, các công ty 18 Fintech cũng như các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn khi nền kinh tế chịu nhiều thử thách, tuy nhiên các quỹ đầu tư mạo hiểm lại đầu tư mạnh mẽ vào Fintech. Các nước đứng đầu trên thế giới về Fintech có lợi thế về nền kinh tế mở, môi trường công nghệ cao, qua đó tỷ trọng người dùng ứng dụng dịch vụ Fintech là rất cao. Đơn cử, Mỹ là nước có một lượng lớn hoạt động của các công ty và các sản phẩm công nghệ tài chính nhiều nhất trên thế giới.
trung tâm công nghệ tài chính (Fintech) chỉ xếp hạng thứ 21 nhưng Trung Quốc trên thế giới vẫn được vinh danh trong việc trở thành. Đồng thời, Trung Quốc cũng là thị trường lớn nhất thế giới về cho vay ngang hàng (P2P lending) (PwC, 2020). Từ những ảnh hưởng quan trọng của Fintech đối với nền kinh tế, tại nhiều quốc gia đang phát triển, chính phủ đề ra các chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của Fintech. Năm 2020, chính phủ Malaysia công bố đầu tư tập trung ngân sách để phát triển nền kinh tế kỹ thuật số, Quỹ đầu tư hợp tác Malaysia được tăng thêm khoảng 50 triệu Ringgit (ISEV, 2020).
Tại Indonesia, chính phủ tiến hành công bố các sáng kiến đổi mới cho lĩnh vực công nghệ tài chính nhằm hỗ trợ phát triển thị trường Fintech phát triển nhanh hơn (ISEV, 2020). Ngoài ra, trong thời gian 5 năm, cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) đã dành ra gần 250 triệu đô để rót vốn đầu tư cho các dự án phát triển lĩnh vực Fintech (Phạm Xuân Hòe & Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2017). Tính đến quý II năm 2019, Singapore đã chi tới 453 triệu USD để đầu tư vào lĩnh vực Fintech và cụ thể là các công ty Fintech, gấp gần 4 lần so với năm 2018 (TTXVN, 2019). Qua đó thấy rõ được sự lớn mạnh và vị thế của Singapore khi so sánh với các trung tâm Fintech trên toàn thế giới.
Ứng dụng của công nghệ tài chính trong ngân hàng thương mại 1. Trí tuệ nhân tạo - AI AI hay còn được biết đến là trí tuệ thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) là một trong số các khía cạnh nổi bật đáng lưu ý trong công nghệ tài chính. Thuật ngữ AI thường được sử dụng để diễn tả các loại máy móc bắt chước các hoạt động hay thậm chí là nhận thức của con người khi liên kết với tâm trí như làm việc hay giải trí (Russel và Norvig, 2013). Các chức năng của trí tuệ nhân tạo đã và đang thu hút một 19 lượng lớn các tổ chức lớn và các định chế tài chính khác nhau, giúp những tổ chức này tiết kiệm được nhiều loại chi phí qua đó gia tăng thu nhập của mình (Nguyễn Thị Ánh Ngọc và Nguyễn Thị Diễm, 2022).
Đối với ngành tài chính nói chung hay các ngân hàng nói riêng, AI mang lại một giải pháp hỗ trợ việc kết nối giữa các bên trong giao dịch, khiến cho giao dịch trở nên nhanh chóng và thuận tiện hơn. Qua đó, số lượng các giao dịch trong hệ thống ngân hàng được cải thiện một cách đáng kể (T.