Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết tác động TNNL đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khả năng sinh lời của NHTM 2. Khái niệm khả năng sinh lời của NHTM Theo nghĩa rộng, ngân hàng thương mại dùng để chỉ các định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, ngân hàng thương mại dùng để chỉ các ngân hàng tổng hợp thực hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi viết séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay (thường là ngắn hạn), môi giới chứng khoán, … (Nguyễn Văn Ngọc, 2006). Theo luật các tổ chức tín dụng (2010); ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và vì mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô ngân hàng, là thước đo hiệu quả giúp đánh giá tình hình hoạt động cũng như những rủi ro mà ngân hàng gặp phải, phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định (Nguyễn Văn Ngọc, 2006).
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của NHTM Các chỉ tiêu thường được các nhà phân tích dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của các ngân hàng là: tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), chỉ số thu nhập lãi cận biên (NIM),. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) 8 Theo Adam Calamar (2006), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity) được xác định bằng tỷ lệ của lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ của doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế (Thu nhập ròng) là số tiền lãi mà một công ty đã kiếm được sau khi tất cả các chi phí và thuế được khấu trừ vào doanh thu. Vốn chủ sở hữu của cổ đông là giá trị mà các chủ sở hữu của công ty đã đầu tư chưa được chi trả bằng cổ tức.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu, cho biết một đồng vốn của chủ sở hữu sinh được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ số thu nhập lãi cận biên (NIM) Theo Rose (1999), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (thu nhập lãi thuần) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu, thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo dõi các nguồn vốn có chi phí thấp. Công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) như sau: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) Theo Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh (2011), chỉ tiêu suất sinh lời trên tài sản được sử dụng để đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho công ty và độc lập với cơ cấu nguồn vốn. 9 = x = suất sinh lợi của doanh thu thuần x số vòng quay của tài sản Như vậy, vì ROA chịu ảnh hưởng của hai nhân tố là suất sinh lợi của doanh thu thuần và số vòng quay tài sản nên để ROA tăng, ngân hàng cần phải kiểm soát chi phí hoạt động với mục tiêu tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận; đồng thời làm cho số vòng quay của tài sản cao thông qua việc tăng hiệu quả sử dụng tài sản nhanh.
Trong luận văn này, tác giả chọn ROA là chỉ số đại diện để phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng vì chỉ số này phản ánh được lợi nhuận của ngân hàng trên tổng các nguồn vốn (cả vốn vay và vốn chủ sở hữu), nên đưa ra đánh giá toàn diện hơn. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM Hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của NHTM. Nghiên cứu của Lepetit và ctg (2008) về ảnh hưởng của đa dạng hóa danh mục đầu tư đến khả năng sinh lời và rủi ro tại các ngân hàng châu Âu giai đoạn từ năm 1996- 2002. Bài viết đã phân tích các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng là: tỷ lệ dư nợ cho vay trên tài sản (LOANS), tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DEP), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản (EQUITY), tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay (LLP), tỷ lệ tiêu dùng cá nhân trên tổng tài sản (EXPENSES), tỷ lệ thu nhập lãi ròng trên thu nhập ròng từ hoạt động (NII), tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt động hoa hồng trên thu nhập ròng từ hoạt động (COM), tỷ lệ thu nhập ròng từ kinh doanh trên thu nhập ròng từ hoạt động (TRAD), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên thu nhập ròng từ hoạt động (NNII) và mức thay đổi tổng tài sản hằng năm (∆TA).
Tương tự như nghiên cứu trên, Nguyễn Thị Thu Hiền (2017) đã nghiên cứu về các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến ROA và ROE của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006-2015, xác định khả năng sinh lời của các NHTM chịu tác động 10 của các nhân tố: tỷ số dư nợ cho vay trên tài sản, tỷ số dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ cho vay, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay, tỷ số tài sản thanh khoản cao trên tiền gửi, tỷ số tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ số chi phí trả lãi trên tổng nợ phải trả, tỷ số vốn chủ sở hữu trên tài sản, tỷ số thu nhập phi lãi trên tài sản, tỷ số chi phí hoạt động trên tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập, quy mô ngân hàng (Logarit của tổng tài sản) và các biến quản trị công ty: số lượng thành viên hội đồng (BDSIZE) và số lượng thành viên nữ (BDF). Bên cạnh đó, Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2014) cũng đã sử dụng mô hình hồi quy để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 39 NHTM Việt Nam từ năm 2015 – 2012 bằng các biến độc lập: Loại hình ngân hàng (OWNERNN), tỷ lệ chi phí trên doanh thu (TCTR), tỷ lệ tiền gửi so với tiền vay (DLR), vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), thị phần ngân hàng (MARKSHARE), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOANTA), tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng tài sản (NPL); cùng với 2 biến phụ thuộc là lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tổng hợp các nghiên cứu trên, tác giả sẽ lựa chọn và đi sâu vào mô tả các nhân tố quan trọng tác động đến khả năng sinh lời của NHTM, làm cơ sở cho việc xây dựng các biến trong mô hình nghiên cứu của luận văn này. Thu nhập ngoài lãi của NHTM 2.
Khái niệm và phân loại TNNL Nguồn thu nhập của ngân hàng đến từ hai hoạt động chính, gồm: Nguồn thu từ lãi và nguồn thu ngoài lãi. Cụ thể, nguồn thu từ lãi gồm các khoản thu từ cho vay của ngân hàng, đây là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của ngân hàng (Nguyễn Thị Liên Hoa và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2018). Nguồn thu ngoài lãi bao gồm các khoản thu khác ngoài những khoản thu từ hoạt động cho vay và chứng khoán được gọi là khoản thu ngoài lãi, như: Thu phí từ hoạt động cung cấp các dịch vụ 11 nhận tiền gửi, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ khác của ngân hàng. Theo Hoàng Ngọc Yến và Võ Thị Hiền (2010), thu nhập ngoài lãi là các khoản thu nhập từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng và chi phí bỏ ra để cung ứng các sản phẩm dịch vụ đó.
Theo bài nghiên cứu của ngân hàng dự trữ liên bang của Cleveland về xu hướng thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng nước ngoài và địa phương tại Mỹ trong 2 giai đoạn từ năm 2001- 2007 và từ năm 2008- 2018 thông qua số liệu từ FFIEC Call Reports có định nghĩa thu nhập ngoài lãi là thu nhập của ngân hàng mà từ nguồn không liên quan đến thu nhập từ lãi. Đối với các khách hàng thông thường, phí dịch vụ có lẽ là loại thu nhập ngoài lãi phổ biến nhất, như phí ATM, phí trả gốc trước hạn, … Một loại khác của thu nhập ngoài lãi từ phí ngân hàng là khi ngân hàng tạo và phân phối khoản vay. Trong trường hợp này, ngân hàng tạo khoản vay, gom các khoản vay, chứng khoán hóa và bán chúng cho các trung gian tài chính hoặc các khách hàng khác. Ngân hàng sẽ có thu nhập từ bán các khoản vay và cũng thu được phí nếu tiếp tục cung cấp dịch vụ cho khoản vay.
Một dạng khác của thu nhập ngoài lãi là từ các hoạt động phi truyền thống của ngân hàng như mua bán chứng khoán; thâu tóm, sát nhập các công ty; kinh doanh trái phiếu, cổ phiếu; mua bán bất động sản và bán bảo hiểm. Theo Brunnermeier, Dong, Palia (2012), thu nhập ngoài lãi (TNNL) bao gồm các hoạt động như: thu nhập từ kinh doanh chứng khoán, đầu tư và phí tư vấn, phí hoa hồng môi giới và thu nhập ủy thác. Những hoạt động này là khác với việc nhận tiền gửi và cho vay - các chức năng truyền thống của các ngân hàng. Để có được TNNL các ngân hàng phải cạnh tranh với các trung gian thị trường vốn khác như các quỹ đầu tư, quỹ tương hỗ, các ngân hàng đầu tư, các công ty bảo hiểm và các quỹ cổ phần tư nhân.