Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng với đề tài "Tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh năm 2020. Nghiên cứu giải quyết bài toán đặt ra trong bối cảnh hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua việc thực thi các cam kết của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP/TPP) và các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Các cam kết này mở rộng dần giới hạn sở hữu nước ngoài (tối đa 30% đối với ngân hàng, 49% đối với bảo hiểm và chứng khoán, hướng tới mức 70% theo thỏa thuận AEC) và cho phép các tập đoàn tài chính nước ngoài cung ứng dịch vụ xuyên biên giới mà không nhất thiết phải thành lập pháp nhân ngân hàng 100% vốn nước ngoài như giai đoạn gia nhập WTO trước đây. Đồng thời, sự kiện Luật Cạnh tranh năm 2018 có hiệu lực từ ngày 01/7/2019 với các quy định cụ thể về việc cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (thỏa thuận phân chia khách hàng, thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận, thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ hoặc nguồn cung ứng dịch vụ) đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về quản lý cạnh tranh nội ngành.

Bên cạnh đó, bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ công cụ tài chính phái sinh nợ thế chấp CDO (Collateralized Debt Obligation) cùng sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, dẫn đến thiệt hại kinh tế hơn 10.000 tỷ USD, đã chứng minh tính chất lây lan nhanh chóng của rủi ro tín dụng đối với toàn bộ thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Tại các quốc gia đang phát triển, tổn thất do khủng hoảng tài chính cũng từng được ghi nhận ở mức rất lớn như tại Trung Quốc năm 1999 (chiếm 47,4% GDP) hay Indonesia năm 1997 (chiếm 50 - 55% GDP). Mặc dù rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại là chủ đề được quan tâm, nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo các góc độ đơn lẻ: khảo sát ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến thu nhập ngoài lãi hoặc hiệu quả tài chính; phân tích đa dạng hóa thu nhập; hoặc đánh giá cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Hiện tượng tiếp xúc đa thị trường (Multimarket Contact - TXĐTT) — tức các ngân hàng cùng lúc cạnh tranh với nhau tại nhiều địa bàn địa lý thông qua hệ thống chi nhánh — vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện trong mối tương quan đồng thời với mức độ cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động. Đây chính là khoảng trống học thuật và thực tiễn mà luận án lựa chọn tập trung giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: Phân tích tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam cùng các yếu tố nội tại có liên quan.

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đo lường mức độ tác động của tiếp xúc đa thị trường đến cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  2. Đo lường mức độ tác động của tiếp xúc đa thị trường đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  3. Đo lường tác động của tiếp xúc đa thị trường đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho nhà quản trị ngân hàng và nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, duy trì sự ổn định cho hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh và rủi ro gia tăng.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Mức độ tác động và chiều hướng tác động của tiếp xúc đa thị trường đến cạnh tranh của các ngân hàng thương mại như thế nào?
  2. Mức độ tác động và chiều hướng tác động của tiếp xúc đa thị trường tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ra sao?
  3. Tiếp xúc đa thị trường có tác động đồng thời lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động hay không? Chiều hướng và mức độ tác động của tiếp xúc đa thị trường tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mối quan hệ tác động giữa tiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, cùng hệ thống các yếu tố kiểm soát vi mô đại diện cho đặc trưng tài chính nội tại của ngân hàng bao gồm: Quy mô ngân hàng (SIZE), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP), Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản (TLTA), Tỷ lệ tổng tiền gửi trên tổng tài sản (DEPOTA), Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập (DIV), và Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động trên tổng tài sản (OETA).

Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian: Luận án khảo sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong khung thời gian 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2017. Về mẫu nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu kiểm toán từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 33 ngân hàng thương mại Việt Nam, kết hợp chỉ số kinh tế vĩ mô từ World Bank và thực hiện đối chiếu độ tin cậy thông qua hệ thống Thomson Reuters. Luận án loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu các định chế có cơ chế tài chính đặc thù như Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã, hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và các ngân hàng liên doanh.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành hai dòng mạch chính: các nghiên cứu quốc tế về tiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh, rủi ro và hiệu quả hoạt động ngân hàng; cùng các công trình thực nghiệm đã được công bố tại Việt Nam.

Trên bình diện quốc tế, khởi nguồn lý thuyết về tiếp xúc đa thị trường bắt đầu từ công trình của Edwards (1955), đưa ra luận điểm rằng khi các doanh nghiệp quy mô lớn chạm trán nhau ở nhiều thị trường khác nhau, tần suất tiếp xúc lặp lại sẽ làm suy giảm động lực cạnh tranh gay gắt. Cơ chế này được mô hình hóa bởi Bernheim và Whinston (1990), chứng minh rằng tiếp xúc đa thị trường khuyến khích các doanh nghiệp thiết lập các thỏa thuận ngầm nhằm duy trì kết quả kinh doanh chung, đặc biệt khi tồn tại sự bất cân xứng giữa các thị trường. Spagnolo (1999) mở rộng nghiên cứu và chỉ ra rằng các liên kết đa thị trường luôn tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi thông đồng ngầm, bất kể thị trường có đối xứng hay không. Các nghiên cứu tiếp theo của Matsushima (2001) và Thomas và Willig (2006) củng cố khả năng thông đồng khi tiếp xúc đa thị trường diễn ra trong điều kiện thông tin không hoàn hảo. Ngược lại, Solomon (1970) cho rằng sự kết nối mạng lưới giữa các thị trường địa phương có thể làm gia tăng mức độ tương tác cạnh tranh nếu tính chất ganh đua tại từng địa bàn vốn dĩ đã khốc liệt, dẫn đến sụt giảm lợi nhuận. Mester (1992) dùng mô hình báo hiệu đồng thời để khẳng định tiếp xúc đa thị trường có thể thúc đẩy cạnh tranh khi số lượng đóng vai trò là biến số chiến lược.

Trong lĩnh vực ngân hàng thương mại, các công trình thực nghiệm quốc tế ghi nhận nhiều kết quả đa chiều:

  • Alexander (1985) và Rhoades và Heggestad (1985) tìm thấy bằng chứng cho thấy tiếp xúc đa thị trường dẫn đến lãi suất cho vay và phí dịch vụ cao hơn nhưng suất sinh lời ROA giảm, cung cấp bằng chứng ủng hộ yếu cho giả thuyết "nhượng bộ lẫn nhau" (mutual forbearance).
  • De Bonis và Ferrando (2000) khảo sát hệ thống ngân hàng Ý trong thập niên 1990 và nhận thấy tiếp xúc đa thị trường làm tăng cạnh tranh, dẫn đến giảm lãi suất cho vay.
  • Coccorese và Pellecchia (2009, 2013) nghiên cứu ngành ngân hàng Ý giai đoạn 2002 - 2005 và 1997 - 2009, khẳng định liên kết đa thị trường có tương quan thuận có ý nghĩa với sức mạnh thị trường và khả năng sinh lời, hỗ trợ việc kiềm chế mức độ cạnh tranh đối đầu giữa các tổ chức tín dụng.
  • Meslier-Crouzille và cộng sự (2013) nghiên cứu 39 ngân hàng thương mại tại Philippines giai đoạn 1999 - 2005, chỉ ra rằng việc dịch chuyển sang các hoạt động phi tín dụng làm gia tăng tỷ suất sinh lời điều chỉnh rủi ro.
  • Pham và cộng sự (2017) khảo sát tại thị trường đang phát triển Ukraina và xác nhận kết quả ủng hộ giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau, trong đó mối quan hệ này thể hiện rõ rệt hơn trong môi trường có tính cạnh tranh cao.
  • Leroy và Lucotte (2016) cùng Berger và cộng sự (2009) nhận thấy mức độ cạnh tranh thấp có xu hướng làm giảm hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Ngược lại, González, Razia và Vivel (2017) cho rằng chất lượng tài sản của ngân hàng tăng lên khi cạnh tranh gia tăng.
  • Noman và cộng sự (2018) nghiên cứu các ngân hàng Đông Nam Á giai đoạn 1990 bằng phương pháp GMM, chỉ ra rằng cạnh tranh thúc đẩy ổn định tài chính và làm giảm rủi ro tín dụng.
  • Albaity và cộng sự (2019) nghiên cứu 276 ngân hàng tại 18 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) giai đoạn 2006 - 2015 qua chỉ số Lerner và Boone, kết luận các ngân hàng đối mặt với ít cạnh tranh hơn sẽ có rủi ro tín dụng thấp hơn và hiệu quả hoạt động cao hơn.
  • Athanasoglou và cộng sự (2008) tại khu vực Đông Nam Âu (SEE) ủng hộ mô hình SCP và khẳng định biến rủi ro tín dụng (LLP) tác động tiêu cực đến hiệu quả ngân hàng. Soedarmono và cộng sự (2011) khảo sát 607 ngân hàng tại 12 quốc gia châu Á (trong đó có 34 ngân hàng Việt Nam) giai đoạn 2001 - 2007 bằng mô hình FEM và 2SLS, chỉ ra rằng mức độ vốn hóa cao trong thị trường ít cạnh tranh không đủ sức đối phó với rủi ro hệ thống.
  • Tan, Floros và Anchor (2017) phân tích 41 ngân hàng thương mại Trung Quốc giai đoạn 2003 - 2014 bằng GMM, phát hiện cạnh tranh tác động cùng chiều đến ROA, NIM và lợi nhuận trước thuế PBT, không ủng hộ giả thuyết SCP truyền thống. Shaban và James (2018) nghiên cứu 60 ngân hàng Indonesia (2005 - 2012) cho thấy hoạt động M&A nội địa làm giảm hiệu quả hoạt động nhưng M&A ngoại giúp cải thiện hiệu quả và giảm rủi ro.
  • Hung và cộng sự (2018) tại Mỹ (15.153 quan sát giai đoạn 1986 - 2013) sử dụng biến cú sốc ngoại sinh IBBEA và chỉ ra cạnh tranh làm suy giảm hiệu quả hoạt động. Khan, Ahmad và Chan (2018) nghiên cứu 173 ngân hàng thương mại ASEAN giai đoạn 1999 - 2014 khẳng định giả thuyết SCP phù hợp với khối ASEAN, trong đó cấu trúc tập trung tạo ra hành vi phi cạnh tranh và mang lại lợi nhuận cao hơn. Abuzayed và cộng sự (2018) khảo sát 107 ngân hàng tại khối GCC (1999 - 2014) tìm thấy mối quan hệ phi tuyến và tác động tiêu cực của đa dạng hóa đối với sự ổn định ngân hàng.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hệ thống ngân hàng thương mại phát triển theo các nhóm chủ đề riêng biệt:

  • Về tiếp xúc đa thị trường: Tu DQ Le và Son H. là nghiên cứu gần nhất áp dụng mô hình GMM, chỉ ra rằng tiếp xúc đa thị trường giúp cải thiện tính ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Về hiệu quả hoạt động: Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) nghiên cứu giai đoạn 2005 - 2011 bằng mô hình 2SLS và Tobit, khẳng định hiệu quả chịu tác động thuận chiều từ thị phần, quy mô ngân hàng và tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
  • Về cạnh tranh và ổn định: Nghiên cứu của Trung (2010), Vinh (2015), Vinh và Tiên (2017), và Tuyền (2018) đo lường cạnh tranh và tác động tới sự ổn định tài chính.
  • Về đa dạng hóa thu nhập và rủi ro: Tiến và Hiền (2010) xác định phương pháp bóc tách tỷ lệ thu nhập ngoài tín dụng; Sáng và Hoa (2013) phân tích các yếu tố thúc đẩy thu nhập ngoài lãi; Cành và Minh (2014), Cành và cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời và rủi ro của 22 ngân hàng (2007 - 2013); Hiền và Hạt (2016) khảo sát 33 ngân hàng (2006 - 2013); Điển và cộng sự (2016) áp dụng mô hình sai số chuẩn hiệu chỉnh PCSE trên 27 ngân hàng thương mại cổ phần.

Vị trí của luận án được xác lập từ khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: Các công trình nghiên cứu tiếp xúc đa thị trường trên thế giới chủ yếu thực hiện tại các nền kinh tế phát triển (tiêu biểu là Ý) và rất hiếm khi được thực hiện ở các thị trường mới nổi. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào tích hợp đo lường tiếp xúc đa thị trường để kiểm định đồng thời sự tác động lên ba trục quan hệ: mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner), rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua phương pháp ước lượng GMM trên dữ liệu bảng không cân bằng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sáu nền tảng lý thuyết học thuật:

  1. Giả thuyết Cấu trúc - Thực hiện - Hiệu quả (Structure - Conduct - Performance - SCP): Được phát triển bởi Gilbert (1984), Berger và Hannan (1998). Lý thuyết giả định cấu trúc thị trường quy định hành vi ứng xử của ngân hàng, từ đó quyết định hiệu quả hoạt động. Thị trường có mức độ tập trung cao cho phép các ngân hàng lớn thỏa thuận ngầm, áp đặt lãi suất huy động thấp và lãi suất cho vay cao để thu về lợi nhuận độc quyền.
  2. Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau (Mutual Forbearance): Dựa trên lý thuyết độc quyền nhóm của Edwards (1955) và Bernheim và Whinston (1990). Khi các ngân hàng tiếp xúc với nhau trên nhiều thị trường địa lý, họ e ngại hành vi cạnh tranh quyết liệt tại một địa bàn sẽ bị đối thủ trả đũa mạnh mẽ tại các địa bàn khác. Điều này dẫn đến sự nhân nhượng ngầm nhằm làm giảm cạnh tranh tổng thể. Tuy nhiên, luận án cũng tiếp cận khía cạnh ngược lại theo Solomon (1970): khi các ngân hàng đã đối đầu gay gắt tại các thị trường trọng điểm, việc gia tăng mạng lưới liên kết đa thị trường sẽ thúc đẩy mức độ cạnh tranh cục bộ, làm phân tán thị phần và làm giảm hiệu quả sinh lời.
  3. Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life - QL): Khởi xướng bởi Hicks (1935), đối lập với mô hình SCP. Khi ngân hàng nắm giữ sức mạnh thị trường lớn, nhà quản trị có xu hướng giảm nỗ lực tối ưu hóa chi phí hoặc theo đuổi các mục tiêu cá nhân ngoài việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Do đó, tồn tại mối tương quan nghịch giữa sức mạnh thị trường và hiệu quả chi phí (Berger và Hannan, 1998; Maudos và de Guevara, 2007).
  4. Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro: Luận điểm "cạnh tranh - dễ tổn thương" của Keeley (1990) cho rằng cạnh tranh gay gắt làm xói mòn giá trị thương quyền và biên lợi nhuận độc quyền, thúc đẩy ngân hàng thực hiện các chính sách cấp tín dụng rủi ro cao. Ngược lại, luận điểm "cạnh tranh - ổn định" của Boyd và De Nicoló (2005) chứng minh thị trường tập trung cho phép ngân hàng nâng cao lãi suất cho vay, làm gia tăng gánh nặng trả nợ và rủi ro đạo đức của bên đi vay, dẫn tới tỷ lệ nợ xấu tăng cao.
  5. Lý thuyết về đa dạng hóa: Hai góc nhìn trái ngược: Haugen (2001), Klein và Saidenberg (2000) và Diamond (1984) cho rằng đa dạng hóa thu nhập giúp phân tán rủi ro và giảm chi phí giám sát; trong khi DeYoung và Roland (2001) cùng Laeven và Levine (2009) chỉ ra các hoạt động dịch vụ tạo phí đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ, nhân sự lớn và đòn bẩy tài chính cao, khiến lợi nhuận ngân hàng biến động mạnh hơn.
  6. Lý thuyết "Quá lớn để sụp đổ" (Too-Big-To-Fail): Xuất phát từ phiên điều trần của Nghị sĩ Stewart McKinney (1984) và các nghiên cứu của Mishkin (1999), Paul Krugman. Các ngân hàng có quy mô tài sản lớn và mạng lưới liên kết sâu rộng thường được chính phủ bảo hộ ngầm, tạo ra lợi thế cạnh tranh về huy động vốn và hạ thấp rủi ro phá sản, nhưng đồng thời có thể dung dưỡng tâm lý ỷ lại và rủi ro đạo đức trong quản trị.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp phân tích định tính (tổng hợp tư liệu, phân tích quy chế ngành, thống kê mô tả số liệu ngành) và phương pháp phân tích định lượng làm trọng tâm. Kỹ thuật ước lượng hồi quy được sử dụng là phương pháp Moment tổng quát (Generalized Method of Moments - GMM) áp dụng cho dữ liệu bảng không cân bằng (unbalanced panel data). Phương pháp GMM được tác giả lựa chọn nhằm kiểm soát các vấn đề nội sinh tiềm ẩn giữa các biến tài chính, xử lý hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi trong mô hình dữ liệu bảng ngân hàng. Toàn bộ các kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF), phân tích tương quan và ước lượng hồi quy được thực hiện trên phần mềm Stata 12.0.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên của 33 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017, dữ liệu tăng trưởng kinh tế và lạm phát thu thập từ World Bank, cùng cơ sở dữ liệu đối chiếu thông tin tài chính Thomson Reuters.

Hệ thống các biến số trong ba mô hình hồi quy của luận án được tổng hợp cụ thể tại bảng dưới đây:

Ký hiệu biến Tên biến và định nghĩa Vai trò trong mô hình Nguồn lý thuyết / Căn cứ tính toán
MMC1, MMC2 Tiếp xúc đa thị trường (số lượng ngân hàng trung bình gặp nhau tại các thị trường địa bàn) Biến độc lập trọng tâm trong MH1, MH2, MH3 Coccorese và Pellecchia (2009)
LERNER Chỉ số Lerner đo lường sức mạnh thị trường và mức độ cạnh tranh ngân hàng Biến phụ thuộc (MH1); Biến độc lập (MH3) Khung NEIO, Berger và Hannan (1998)
RRTD Rủi ro tín dụng (Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ; LLP/TL) Biến phụ thuộc (MH2); Biến độc lập (MH3) Ủy ban Basel (2004), Murphy (2008)
RAROA, ROA, NIM Hiệu quả hoạt động (Lợi nhuận trên tài sản điều chỉnh rủi ro, ROA, Biên lãi ròng) Biến phụ thuộc trong mô hình 3 (MH3) Berger và Mester (1997), Petria và ctg. (2015)
SIZE Quy mô ngân hàng (Logarit tự nhiên của tổng tài sản) Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Lý thuyết Too-Big-To-Fail; Allen và Rai (1996)
CAP Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Chuẩn mực Basel II về tỷ lệ an toàn vốn CAR
TLTA Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Tan và Leby Lau (2016), Goddard và ctg. (2014)
DEPOTA Tỷ lệ tổng tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Cấu trúc nguồn vốn huy động (Gilbert, 1984)
DIV Mức độ đa dạng hóa thu nhập (Thu nhập ngoài lãi / Tổng thu nhập) Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Lý thuyết đa dạng hóa; Mercieca và ctg. (2007)
OETA Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản Biến kiểm soát vi mô trong MH1, MH2, MH3 Giả thuyết Quiet Life; Athanasoglou và ctg. (2008)
GDP, Lạm phát Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát hàng năm Biến kiểm soát vĩ mô Dữ liệu thống kê World Bank

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Phần mở đầu

Chương 1 thiết lập khung khổ tổng thể cho đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình hội nhập tài chính ngân hàng quốc tế của Việt Nam (thực thi cam kết AEC từ năm 2015, TPP/CPTPP, nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài), các quy định pháp lý mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 (hiệu lực 01/7/2019), cùng các bài học kiểm soát rủi ro tín dụng rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1997, 1999 và 2008. Chương này xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đánh giá tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả nêu rõ 4 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (các biến số TXĐTT, Lerner, RRTD, HQHĐ, các biến kiểm soát nội tại và vĩ mô) và phạm vi nghiên cứu (33 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017). Phần mở đầu cũng khái quát phương pháp định lượng GMM cho dữ liệu bảng không cân bằng trên phần mềm Stata 12.0, công bố sơ đồ quy trình nghiên cứu gồm các giai đoạn tuần tự từ cơ sở lý thuyết, phân tích định tính đến kiểm định mô hình định lượng và kết luận, đồng thời tóm tắt kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về rủi ro tín dụng, cạnh tranh, tiếp xúc đa thị trường đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 2 thực hiện việc hệ thống hóa toàn diện các khái niệm kinh tế học và tài chính ngân hàng:

  • Khái niệm cạnh tranh theo giác độ kinh tế chính trị Mác - Lênin, kinh tế học vi mô và quan điểm chiến lược của Michael Porter (1980);
  • Khái niệm tiếp xúc đa thị trường theo định nghĩa của Edwards (1955), Bernheim và Whinston (1990) và công thức tính số lượng đối thủ trung bình tại thị trường theo Coccorese và Pellecchia (2009);
  • Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng theo chuẩn mực của Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (quy định tỷ lệ an toàn vốn CAR tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1 và 8% đối với vốn cấp 2 tại Basel II), các định nghĩa của Koch và MacDonald (2014) và Murphy (2008);
  • Khái niệm hiệu quả và hiệu quả hoạt động ngân hàng dựa trên công trình của Berger và Humphrey (1997), Berger và Mester (1997), Coelli và cộng sự (2005).

Chương 2 đi sâu phân tích 6 lý thuyết nền tảng: Giả thuyết Cấu trúc - Thực hiện - Hiệu quả (SCP), Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau (Mutual Forbearance), Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life), Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro, Lý thuyết đa dạng hóa và Lý thuyết quá lớn để sụp đổ. Đồng thời, tác giả phân loại các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm:

  • Nhóm nhân tố chủ quan: Năng lực tài chính (quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô dư nợ cho vay, tỷ trọng thanh khoản tài sản có, cơ cấu sở hữu nhà nước so với tư nhân, mức độ đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi) và Năng lực quản trị điều hành (quản lý tỷ lệ chi phí hoạt động OETA, chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin).
  • Nhóm nhân tố khách quan: Môi trường kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát), môi trường chính trị - xã hội và khuôn khổ thể chế điều tiết.

Chương này kết thúc bằng phần lược khảo chi tiết các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước (tổng hợp qua Bảng 2.1) cùng các mô hình thực nghiệm tiêu biểu của Delis (2002), Coccorese và Pellecchia (2009, 2013), Degl’Innocenti và cộng sự (2014), Bana Abuzayed và cộng sự (2018), qua đó chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu học thuật của đề tài.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu thực nghiệm và xây dựng ba mô hình kinh tế lượng phục vụ ba mục tiêu định lượng:

  1. Mô hình 1 (MH1): Đánh giá tác động của tiếp xúc đa thị trường (đo lường qua biến MMC1 và MMC2) lên mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (đo lường bằng chỉ số Lerner), kiểm soát bởi các biến quy mô (SIZE), tỷ lệ vốn (CAP), tỷ lệ cho vay (TLTA), tiền gửi (DEPOTA) và chi phí hoạt động (OETA).
  2. Mô hình 2 (MH2): Đánh giá tác động của tiếp xúc đa thị trường lên rủi ro tín dụng của ngân hàng (đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ dự phòng tổn thất cho vay), kết hợp kiểm soát các đặc trưng tài chính nội tại.
  3. Mô hình 3 (MH3 và MH3-A): Đánh giá tác động đồng thời của tiếp xúc đa thị trường, mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner) và rủi ro tín dụng lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam (đo lường bằng chỉ số sinh lời điều chỉnh rủi ro RAROA, ROA, NIM).

Chương 3 giải thích chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu bảng không cân bằng từ 33 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017 (tổng hợp cách tính toán các biến tại Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3). Tác giả so sánh các mô hình nghiên cứu trước đây và luận chứng việc lựa chọn phương pháp ước lượng Moment tổng quát (GMM) trên phần mềm Stata 12.0 là tối ưu để xử lý hiện tượng tự tương quan và nội sinh của các biến giải thích.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 công bố toàn bộ kết quả định lượng thu được từ các mô hình ước lượng:

  • Bảng 4.1 trình bày thống kê mô tả các biến trong giai đoạn 2008 - 2017, phản ánh sự biến động của chỉ số RAROA (Hình 4.1) và tỷ lệ nợ xấu trên tổng cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam (Hình 4.2).
  • Kết quả kiểm định đa cộng tuyến: Kiểm tra hệ số phóng đại phương sai (VIF) cho MH1 (Bảng 4.2), MH2 (Bảng 4.4), MH3-A sử dụng MMC1 (Bảng 4.6) và MH3-A sử dụng MMC2 (Bảng 4.7) đều khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kết quả ước lượng hồi quy MH1 (Bảng 4.3): Khẳng định tiếp xúc đa thị trường có tác động đến chỉ số Lerner, thể hiện mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng có sự biến đổi rõ nét khi tần suất tiếp xúc mạng lưới chi nhánh gia tăng.
  • Kết quả ước lượng hồi quy MH2 (Bảng 4.5): Phản ánh chiều hướng tác động của tiếp xúc đa thị trường đến rủi ro tín dụng, cho thấy việc mở rộng mạng lưới đan xen giữa các ngân hàng tại cùng địa bàn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nợ vay.
  • Kết quả ước lượng hồi quy MH3-A (Bảng 4.8 với MMC1, Bảng 4.9 với MMC2, và Bảng 4.10 tổng hợp kết quả): Tiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh và rủi ro tín dụng có tác động đồng thời và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đặc biệt, thông qua hai thước đo MMC1 và MMC2, kết quả định lượng chỉ ra rằng sự hiện diện ngày càng tăng của các ngân hàng ở các khu vực địa lý khác nhau đã gây ra sự sụt giảm chung về thị phần và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, phù hợp với cách tiếp cận lý thuyết của Solomon (1970) khi cạnh tranh gay gắt tại các thị trường địa phương làm phân tán lợi thế kinh tế quy mô.

Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm cốt lõi từ Chương 4 và đưa ra hệ thống hàm ý chính sách chia làm hai nhóm đối tượng:

  1. Đối với nhà quản trị các ngân hàng thương mại: Cần đánh giá thận trọng chiến lược mở rộng mạng lưới phòng giao dịch và chi nhánh vật lý; tránh chạy đua mở rộng chi nhánh tại các địa bàn đã có mật độ tiếp xúc đa thị trường quá dày đặc nhằm ngăn ngừa suy giảm thị phần và hiệu quả; chủ động nâng cao năng lực quản lý chi phí hoạt động (OETA); kiểm soát chặt chẽ quy trình thẩm định tín dụng để hạn chế nợ xấu; và cân nhắc chiến lược đa dạng hóa thu nhập phù hợp với năng lực quản trị.
  2. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước): Cần hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các tổ chức tín dụng; tăng cường các tiêu chuẩn an toàn vốn theo định hướng Basel II/Basel III; tăng cường thanh tra giám sát rủi ro tín dụng lây lan; thực thi hiệu quả các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng nhằm ngăn chặn các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh.

Chương này cũng chỉ rõ các giới hạn của đề tài (giới hạn thời gian 2008 - 2017, dữ liệu mạng lưới dựa trên công bố báo cáo thường niên) và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn như sau:

Về mặt khoa học và lý luận:

  • Luận án là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu tiên phong tại Việt Nam làm sáng tỏ mối quan hệ tác động của tiếp xúc đa thị trường trong lĩnh vực ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ một quốc gia đang phát triển để đối chiếu, kiểm chứng các lý thuyết quốc tế vốn phần lớn chỉ được khảo sát tại các quốc gia phát triển như Ý (Coccorese và Pellecchia, 2009, 2013) hay một số ít nước đang chuyển đổi như Ukraina (Pham và cộng sự, 2017).
  • Nghiên cứu làm rõ cơ chế tác động của tiếp xúc đa thị trường: việc các ngân hàng thương mại gia tăng hiện diện mạng lưới tại các địa bàn chung (đo lường qua MMC1 và MMC2) không dẫn đến sự nhượng bộ ngầm để tăng lợi nhuận độc quyền như giả thuyết Bernheim và Whinston (1990), mà ngược lại, sự đối đầu trực diện tại các khu vực khác nhau đã gây ra sự sụt giảm chung về thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bổ sung luận cứ ủng hộ quan điểm của Solomon (1970).
  • Luận án tích hợp thành công mô hình ước lượng GMM trên dữ liệu bảng không cân bằng để kiểm định đồng thời mối quan hệ tương hỗ giữa tiếp xúc đa thị trường, mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner), rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động (RAROA, ROA, NIM).

Về mặt thực tiễn và ứng dụng chính sách:

  • Cung cấp cơ sở khoa học định lượng hỗ trợ các nhà quản trị ngân hàng thương mại đưa ra các quyết định chiến lược linh hoạt và hợp lý trong việc phát triển mạng lưới chi nhánh, phân bổ vốn và kiểm soát chi phí hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
  • Đưa ra các gợi ý chính sách thực tế cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc quản lý cấp phép mở rộng chi nhánh ngân hàng, giám sát mức độ tập trung thị trường và kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống tài chính quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án được tác giả xác định dựa trên phạm vi và điều kiện dữ liệu thực tế:

  • Khung thời gian dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2008 - 2017, chưa bao quát được các biến động kinh tế và thay đổi thể chế ngân hàng trong những năm gần đây.
  • Mẫu nghiên cứu gồm 33 ngân hàng thương mại, đã chủ động loại trừ các ngân hàng có cơ chế đặc thù như Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Hợp tác xã, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh, do đó kết quả chưa phản ánh toàn bộ các định chế tín dụng phi thương mại.
  • Việc tính toán các chỉ số tiếp xúc đa thị trường (MMC1, MMC2) phụ thuộc vào mức độ chi tiết của thông tin mạng lưới chi nhánh được các ngân hàng công bố công khai trong báo cáo thường niên, vốn có sự khác biệt về tính chuẩn hóa giữa các ngân hàng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Mở rộng chuỗi dữ liệu thời gian sau năm 2017 để cập nhật tác động của các chính sách tái cơ cấu ngân hàng mới và ảnh hưởng của các cú sốc vĩ mô gần đây.
  • Bổ sung vào mô hình các biến số mới liên quan đến xu hướng ngân hàng số và công nghệ tài chính (Fintech) đang làm thay đổi bản chất của tiếp xúc đa thị trường truyền thống (chi nhánh vật lý).
  • Nghiên cứu sâu hơn về tiếp xúc đa thị trường theo từng phân khúc sản phẩm dịch vụ ngân hàng cụ thể (tín dụng bán lẻ, tín dụng doanh nghiệp, dịch vụ thẻ) thay vì chỉ tiếp cận theo ranh giới địa lý.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học công nghiệp: Có thể tham khảo phương pháp luận đo lường tiếp xúc đa thị trường (chỉ số MMC1, MMC2 theo Coccorese và Pellecchia), kỹ thuật ước lượng mô hình GMM cho dữ liệu bảng không cân bằng trên Stata 12.0 để xử lý vấn đề nội sinh, cũng như khung tổng quan tài liệu về các lý thuyết SCP, Mutual Forbearance và Quiet Life tại Chương 2 và Chương 3.
  • Nhà quản trị chiến lược và ban điều hành tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo kết quả định lượng tại Chương 4 để cân nhắc bài toán kinh tế giữa chi phí thiết lập mạng lưới chi nhánh vật lý và hiệu quả kinh doanh mang lại, tránh hiện tượng mở rộng mạng lưới tràn lan dẫn đến xói mòn thị phần và suy giảm hiệu quả sinh lời tổng thể.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng): Tham khảo các căn cứ thực nghiệm tại Chương 4 và hệ thống giải pháp tại Chương 5 để xây dựng các chính sách điều tiết mạng lưới hoạt động ngân hàng, giám sát các rủi ro hệ thống phát sinh từ cạnh tranh liên thị trường và thực thi các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 trong ngành ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiếp xúc đa thị trường (TXĐTT) được luận án định nghĩa và đo lường như thế nào?

Dựa trên nền tảng nghiên cứu của Edwards (1955) và Coccorese và Pellecchia (2009), tiếp xúc đa thị trường trong luận án được hiểu là số lượng ngân hàng trung bình mà một ngân hàng gặp gỡ tại cùng một thị trường địa bàn. Tác giả sử dụng hai thước đo định lượng là MMC1 và MMC2 để phản ánh mức độ hiện diện và tiếp xúc đan xen của các ngân hàng thương mại tại các khu vực địa lý khác nhau tại Việt Nam.

2. Luận án sử dụng phương pháp định lượng nào và tại sao phương pháp này được lựa chọn?

Luận án sử dụng phương pháp Moment tổng quát (Generalized Method of Moments - GMM) áp dụng cho dữ liệu bảng không cân bằng của 33 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2017, được xử lý thông qua phần mềm Stata 12.0. Phương pháp GMM được lựa chọn vì đây là công cụ ước lượng tối ưu để kiểm soát hiện tượng nội sinh giữa các biến tài chính và xử lý triệt để hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu bảng ngân hàng.

3. Kết quả phân tích về tiếp xúc đa thị trường qua MMC1 và MMC2 cho thấy điều gì đối với thị phần và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam?

Kết quả định lượng từ mô hình hồi quy MH3-A (sử dụng MMC1 và MMC2) chứng minh rằng sự hiện diện ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại ở các khu vực địa lý khác nhau đã gây ra sự sụt giảm chung về thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả này ủng hộ lập luận của Solomon (1970), cho thấy cạnh tranh gia tăng khi mở rộng mạng lưới địa bàn đã không mang lại sự thông đồng làm tăng lợi nhuận mà trái lại làm suy giảm hiệu quả hoạt động.

4. Mẫu nghiên cứu của luận án bao gồm và loại trừ những đối tượng ngân hàng nào?

Mẫu nghiên cứu của luận án bao gồm 33 ngân hàng thương mại Việt Nam có báo cáo tài chính và báo cáo thường niên giai đoạn 2008 - 2017, được đối chiếu với cơ sở dữ liệu Thomson Reuters. Luận án loại trừ các định chế có cơ chế tài chính đặc thù gồm: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã, hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và các ngân hàng liên doanh.

5. Khung phân tích của luận án dựa trên các lý thuyết nền tảng nào?

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 6 lý thuyết nền tảng: Giả thuyết Cấu trúc - Thực hiện - Hiệu quả (SCP), Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau (Mutual Forbearance), Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life), Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro của ngân hàng thương mại, Lý thuyết về đa dạng hóa và Lý thuyết quá lớn để sụp đổ (Too-Big-To-Fail).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu phân tích tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của 33 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017. Bằng việc áp dụng phương pháp ước lượng GMM trên dữ liệu bảng không cân bằng, nghiên cứu chứng minh rằng sự gia tăng tiếp xúc đa thị trường (qua MMC1 và MMC2) làm suy giảm thị phần và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Công trình đóng góp cơ sở lý luận thực nghiệm quan trọng về cạnh tranh liên thị trường tại một nền kinh tế đang phát triển, đồng thời cung cấp các khuyến nghị thực tiễn có giá trị cho công tác quản trị mạng lưới ngân hàng thương mại và hoạch định chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.