Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi Kể từ khi hoạt động BHTG xuất hiện đến nay đã có rất nhiều khái niệm về hoạt động này: - Từ điển kinh tế OxFord phát hành năm 1997 : “BHTG là dịch vụ bảo hiểm rủi ro các NH hoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho người có tiền gửi tại các NH hoặc trung gian tài chính đó”. - Qui chế bảo hiểm của công ty BHTG Canada: “BHTG bảo vệ những khoản tiền gửi qui định tại các tổ chức thành viên của hệ thống BHTG trong trường hợp tổ chức thành viên bị phá sản.
Nếu một tổ chức thành viên bị phá sản, công ty BHTG sẽ đứng ra bồi thường cho những người gửi tiền tại tổ chức đó” - Luật BHTG việt Nam số 06/2012/QH13: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi TCTG BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản” Như vậy, cam kết công khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp dồng BH gồm có ba đối tượng: tổ chức BHTG, tổ chức tham ga BHTG và người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm. - Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: Là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các TCTG BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được BH đến người gửi tiền thuộc đối tượng được BH tại TCTG BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. - Người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm: người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán TG kể cả tiền lãi trong hạn mức chi trả tiền gửi được BH theo luật pháp qui dịnh khi TCTG BHTG bị phá sản. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi: là các NH và các trung gian tài chính có hoạt động huy động tiền gửi: 123doc 2 - Các NHTM trong nước: tư cách thành viên là tất yếu khi cấp giấy phép hoạt động cho một NH.
Tuy nhiên, Các NH quốc doanh thường là những định chế thụ hưởng của một bảo vệ ngầm hoặc trọn vẹn của Chính phủ, sự bảo lãnh này làm cho sự có mặt của nó trong hệ thống BHTG dường như không cần thiết. - Các NH nước ngoài: các quốc gia cũng yêu cầu các NH nước ngoài và các đơn vị phụ thuộc tham gia vào hệ thống này. - Các định chế tài chính phi NH: ở vài quốc gia các định chế phi NH cũng là thành viên được BHTG nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các tổ chức nhận TG. Mặc dù vậy, ở nhiều nước các định chế tài chính phi NH được loại trừ khỏi tư cách thành viên.
Các tổ chức này tham gia đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG phải chi trả tiền cho người gửi tiền tại các tổ chức này, trong trường hợp các tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hoạt động. Tổ chức BHTG Nộp phí Chi trả Cam kết Tổ chức tham gia Người gửi tiền BHTG Gửi tiền Hình 1.1 Quan hệ bảo hiểm tiền gửi 1. Bản chất bảo hiểm tiền gửi Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG cho người gửi tiền. Dịch vụ BHTG là loại hàng hóa mang tính xã hội cao, theo cách phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hóa công không thuần túy.
Cơ sở để gọi dịch vụ BHTG là hàng hóa công không thuần túy, căn cứ vào tính chất không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối dịch vụ này. Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ 123doc 3 thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội. Người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được BH sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách BHTG qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền BH khi tổ chức nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán. Công tác giám sát các TCTG BHTG tạo điều kiện để các tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn và tính ổn định của hệ thống tài chính giúp cho người vay sử dụng tiền vay an toàn và hiệu quả.
Bên cạnh đó, khi hệ thống tài chính được khỏe mạnh, hoạt động hiệu quả thì có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của những ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội. Chính vì lẽ đó mà BHTG được xếp vào hàng hóa công không thuần túy. Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi BHTG cũng mang đặc điểm của BH nói chung là nguyên tắc lấy "số đông bù số ít" nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro cho khách hàng, song đặc thù của BHTG là thực hiện chính sách công nhằm mục tiêu bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo an toàn hoạt động NH mà rộng hơn là hệ thống tài chính. Vì vậy, BHTG khác với các loại BH khác ở một số đặc điểm cơ bản trình bày trong bảng 1.1 Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác Bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm khác Bắt buộc cung cấp cho KH là người gửi Chỉ có thể cung cấp khi có sự đồng ý tiền, mà không cần sự đồng ý của KH.
của KH Người gửi tiền được BH mà không Chỉ khi hợp đồng BH được ký kết thì phải ký hợp đồng với tổ chức BHTG quyền và nghĩ vụ của người BH và người được BH mới được xác lập. Phí BH, số tiền đền bù khi có tổn thất Phí BH, số tiền đền bù có thể thỏa được qui định bởi các văn bản luật, người thuận với tổ chức BH, có thể tăng mức gửi tiền không thể thỏa thuận. đền bù bằng cách tăng mức đóng góp. TCTG BHTG trực tiếp điều hành hoạt Đói tượng nộp phí thường là đối động rủi ro và đóng phí BH, trong khi đó tượng thực hiện hoạt động rủi ro và cũng người gửi tiền được BH là đối tượng được chi trả BH.
Các mô hình tổ chức của tổ chức bảo hiểm tiền gửi: 1.1 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thực hiện hoạt động BHTG Mô hình này được hiểu là hoạt động BHTG sẽ được thực hiện bởi một DN đang kinh doanh trong lĩnh vực BH. Doanh nghiệp này duy trì hoạt động BHTG thông qua việc thu phí từ các TCTG BHTG và việc tham gia của các tổ chức này không bắt buộc mà hoàn toàn tự nguyện. Hoạt động của DN bảo hiểm này chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận là chính. Hệ thống BHTG tư nhân không được thiết lập bằng luật, nó có rất ít hoặc không có nghĩa vụ pháp lý chi trả cho người gửi tiền và không nhận được sự trợ giúp của Chính phủ, dẫn đến kết quả là những hệ thống này không thể tự gánh vác được trách nhiệm mà Chính phủ mới là người gánh chịu tổn thất.
Hình thức sở hữu này có thể làm giảm rủi ro đạo đức. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hầu hết hệ thống BHTG tư nhân chỉ thực hiện tốt các chức năng của nó khi tình trạng phá sản xảy ra không thường xuyên và chỉ liên quan đến định chế nhỏ. Còn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, khi hệ thống BHTG đang gặp khó khăn, khả năng giảm bớt tổn thất hoặc chi trả cho người gửi tiền của những hệ thống này càng trở nên khó khăn.2 Quỹ bảo toàn tiền gửi Hoạt động BHTG sẽ được thực hiện trực tiếp bởi các NH, của Hiệp hội NH. Theo đó các thành viên của Hiệp hội sẽ đóng góp tài chính vào quỹ bảo toàn TG để duy trì hoạt động cũng như năng lực tài chính để luôn sẵn sàng bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền khi tổ chức thành viên lâm vào tình trạng khó khăn hay phá sản.
Hoạt động của quỹ này cũng nhằm đảm bảo an toàn, tăng cường niềm tin của công chúng vào hoạt động của các tổ chức trong Hiệp hội.3 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi độc lập của nhà nước Tổ chức này thực hiện hoạt động BHTG không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện chính sách công của Nhà nước. Tổ chức này duy trì hoạt động bằng cách thu phí từ các TCTG BHTG. Do là một tổ chức tài chính của Nhà nước nên việc các tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG là bắt buộc và mức thu phí BHTG được quy định theo pháp luật. Thông thường, nếu đi theo mô hình này, tổ chức BHTG là tổ 123doc 5 chức duy nhất do Nhà nước lập nên hoạt động BHTG sẽ hoạt động trong môi trường không có đối thủ cạnh tranh như ở các loại hình dịch vụ khác.
Hệ thống BHTG của Chính phủ là loại hình thông dụng nhất. Thuận lợi của hệ thống này là hầu hết đều cung cấp sự tin cậy hoàn toàn và là một bộ phận của mạng lưới tài chính an toàn, nó có thể duy trì lòng tin của công chúng ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng. Bên cạnh đó, hệ thống được sự đảm bảo của Chính phủ thường có thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho người gửi tiền. Tuy nhiên, nếu không được thiết kế tốt hệ thống này có thể tạo ra rủi ro đạo đức.
Các mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Hiện nay trên thế giới có 3 mô hình hoạt động phổ biến 1.1 Mô hình chuyên chi trả Theo mô hình này, tổ chức BHTG được thành lập chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ duy nhất đó là chi trả BH cho người gửi tiền khi TCTG BHTG bị phá sản, nhằm một số mục tiêu của chính sách công, trong đó hai mục tiêu quan trọng nhất đó là: (i) khẳng định sự tuyên bố của Chính phủ về sự bảo đảm của Nhà nước (ở một mức độ nào đó) đối với tiền gửi của dân cư ở các tổ chức nhận tiền gửi thông qua một tổ chức và một cơ chế BHTG công khai; (ii) bảo vệ những người gửi tiền nhỏ thông qua việc hình thành cơ chế bồi thường. Mô hình này đơn giản, dễ áp dụng nhưng kém hiệu quả do đó trong giai đoạn hiện nay các tổ chức BHTG trên thế giới ít đi theo mô hình này vì mô hình này chưa phát huy được vai trò quan trọng của BHTG đối với nền kinh tế.