LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008 đã đặt ra hai vấn đề vốn bị xem nhẹ trƣớc đây trong hệ thống tài chính là rủi ro hệ thống và giảm thiểu rủi ro hệ thống nhƣ thế nào. Trƣớc cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2008, các cơ quan giám sát chỉ quan tâm đến các rủi ro riêng lẻ nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và coi rủi ro hệ thống là một phần của các rủi ro riêng lẻ đó (Meuleman và các cộng sự, 2020). Đồng thời, hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn đó cũng tập trung chủ yếu vào khía cạnh vi mô, nghĩa là đảm bảo sự an toàn, lành mạnh và hạn chế rủi ro của từng TCTC riêng lẻ.
Điều này là do các chính sách này bị giới hạn trong các mục tiêu là ổn định giá cả và hoạt động kinh tế (từ góc độ kinh tế vĩ mô) và rủi ro đơn lẻ (từ góc độ kinh tế vi mô) (IMF, 2013). Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng 2008 và những vụ việc nhƣ Lehman Brothers đã chứng minh rằng sự thất bại của một ngân hàng có thể khiến toàn bộ hệ thống trở nên không ổn định và việc giữ cho các TCTC riêng lẻ hoạt động tốt không phải là điều kiện đủ để đảm bảo sự ổn định tài chính (Meuleman và các cộng sự, 2020). Sự sụp đổ của các NHTM có thể lan truyền trong hệ thống tài chính, tạo ra những cú sốc cho thị trƣờng tài chính và ảnh hƣởng tiêu cực tới nền kinh tế. Khi các hoạt động của TCTC ngày trở nên phức tạp với mối liên hệ gia tăng giữa các kênh đầu tƣ và kinh doanh, rủi ro hệ thống gây ra đổ vỡ hàng loạt của các TCTC càng trở nên rõ rệt hơn (Benoit và các cộng sự, 2017).
Khi các NHTM gặp rủi ro và trở nên thiếu vốn, khả năng cung cấp tín dụng ra nền kinh tế sẽ bị ảnh hƣởng tiêu cực và kéo theo rủi ro khủng hoảng kinh tế gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số biện pháp nhằm mục đích tăng cƣờng sự ổn định của hệ thống tài chính đã đƣợc triển khai trên tất cả các quốc gia phát triển nhƣ Mỹ, Châu Âu. Chính sách an toàn vĩ mô đã trở nên nổi bật trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro hệ thống của khu vực ngân hàng do các chính sách này hƣớng đến giảm thiểu rủi ro hệ thống bằng cách tập trung vào tƣơng quan thất bại và trạng thái rủi ro chung giữa các TCTC (Crockett, 2000; Borio, 2003 và Caruana, 2010). Chính quyền trung ƣơng và cơ quan giám sát ở các nƣớc đã dựa nhiều hơn vào các chính sách ATVM để giảm rủi ro hệ thống, tăng sự ổn định tài chính và xây dựng một hệ thống tài chính an toàn hơn, từ đó làm giảm khả năng xảy ra khủng hoảng trong tƣơng lai.
Các chính sách ATVM này hƣớng tới hai mục tiêu chính: hạn chế sự gia tăng rủi ro hệ thống theo chiều thời gian và tăng khả năng phục hồi của hệ thống tài 2 chính trƣớc những cú sốc trong tƣơng lai (Cerutti và các cộng sự, 2017). Các công cụ đƣợc sử dụng có thể liên quan đến tín dụng, liên quan đến thanh khoản và liên quan đến vốn (Aydinbas và các cộng sự, 2015). Các công cụ chính có thể đƣợc sử dụng để giảm thiểu các thất bại của thị trƣờng nhƣ tăng trƣởng tín dụng và đòn bẩy quá mức là: bộ đệm vốn theo chu kỳ, đệm vốn cho từng ngành cụ thể, giới hạn cho vay, giới hạn tỷ lệ thu nhập cho vay LTI. Tại Việt Nam, thị trƣờng tài chính đang phát triển nhanh chóng, phức tạp cả về quy mô lẫn cấu trúc, với các hoạt động tài chính đan xen giữa các khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, nhiều sản phẩm tài chính mới đƣợc ra đời và trong môi trƣờng kinh tế vĩ mô nhiều biến động.
Từ đó hệ thống tài chính tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra rủi ro hệ thống trong cả ba lĩnh vực khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Bên cạnh đó, nền kinh tế lại có mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng. Điều này khiến nền kinh tế trở nên dễ bị tổn thƣơng trƣớc những biến động bất lợi và rủi ro cao từ hệ thống tài chính và các TCTD. Có thể thấy rằng, các nguy cơ mang tính hệ thống này xuất phát cả từ sự bất ổn của môi trƣờng kinh tế vĩ mô cũng nhƣ từ sự tích lũy rủi ro tiềm ẩn nội bộ bên trong các TCTC.
Thêm vào đó, trong giai đoạn từ 2010 đến 2016, do ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, hệ thống NHTM Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, căng thẳng tài chính. Vào thời điểm đó, Việt Nam chƣa chính thức thực hiện điều hành chính sách ATVM. Tuy nhiên, để vƣợt qua khó khăn, ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã rất chủ động và linh hoạt trong điều hành CSTT cũng nhƣ các chính sách ATVM bằng việt kết hợp các công cụ điều hành mang tính hành chính cũng nhƣ các công cụ kinh tế. Các công cụ này phần lớn mang tính truyền thống của CSTT nhƣng trong số đó, một số công cụ thực chất lại chính là các công cụ của chính sách ATVM và đã phần nào phát huy đƣợc hiệu lực trong hạn chế rủi ro hệ thống.
Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra, Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu bộ công cụ tiêu chuẩn của chính sách ATVM hay hiệu lực đơn lẻ của các công cụ còn chƣa cao. Vì thế, việc đánh giá hiệu lực của các công cụ đã triển khai là một việc làm rất cần thiết, làm cơ sở cho việc xây dựng một chính sách ATVM hoàn chỉnh, có hiệu lực mạnh hơn để khi kích hoạt chúng, các công cụ sẽ phát huy đƣợc hiệu lực truyền tải tới mục tiêu trung gian cũng nhƣ mục tiêu cuối cùng đó là ổn định hệ thống tài chính. Từ các lý do kể trên, việc lựa chọn đề tài “Tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” là hoàn toàn cần thiết. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Tình hình nghiên cứu thế giới Chủ đề về chính sách ATVM, rủi ro hệ thống đã nhận đƣợc sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu và nhà làm chính sách từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 – 2008. Nội dung nghiên cứu đƣợc chia làm ba nhóm vấn đề chính bao gồm: rủi ro hệ thống, đo lƣờng rủi ro hệ thống và tác động của chính sách ATVM đến rủi ro hệ thống. Rủi ro hệ thống So với những rủi ro khác, rủi ro hệ thống đƣợc nhận diện tƣơng đối muộn và đến nay vẫn chƣa có khái niệm thống nhất cho vấn đề này. Nghiên cứu về rủi ro hệ thống thƣờng đƣợc chia thành bốn nhóm cơ bản.
Nhóm đầu đầu tiên nghiên cứu về các vấn đề về rủi ro hệ thống rất sớm thông qua việc đề cập đến một cú sốc "lớn" hoặc cú sốc vĩ mô tạo ra các tác động bất lợi lớn gần nhƣ đồng thời cho hầu hết hoặc tất cả các nền kinh tế hoặc hệ thống trong nƣớc. Những ngƣời theo trƣờng phái này nổi bật bao gồm Bartholomew và Whalen (1995) và Mishkin (1995). Theo đó, rủi ro hệ thống "đề cập đến một sự kiện có ảnh hƣởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, tài chính hoặc kinh tế, thay vì chỉ một hoặc một vài tổ chức" (Bartholomew và Whalen, 1995). Tƣơng tự nhƣ vậy, Mishkin (1995) đã định nghĩa rủi ro hệ thống là "khả năng xảy ra sự kiện bất ngờ, thƣờng không dự tính, làm gián đoạn thông tin trên thị trƣờng tài chính, khiến họ không thể luân chuyển tiền một cách hiệu quả đến các bên có cơ hội đầu tƣ hiệu quả nhất".
Tuy nhiên, có thể thấy rằng với nhóm định nghĩa này, các tác giả chƣa chỉ ra việc dẫn truyền từ cú sốc vĩ mô đến từng tổ chức riêng lẻ hoặc sự lan truyền xảy ra nhƣ thế nào hoặc các tổ chức nào bị ảnh hƣởng hoặc không bị ảnh hƣởng. Nhóm định nghĩa thứ hai tập trung vào mối quan hệ nhân quả giữa các TCTC trên thị trƣờng đặc biệt khi một tổ chức gặp vấn đề để từ đó đƣa ra khái niệm về rủi ro hệ thống. Trong nghiên cứu của mình vào năm 1995, Kaufman (1995) đã định nghĩa rủi ro hệ thống là "xác suất mà các khoản lỗ sẽ tích lũy từ một sự kiện và từ đó gây ra một loạt các tổn thất liên tiếp đến một chuỗi các tổ chức hoặc thị trƣờng trong hệ thống. Do đó, rủi ro hệ thống là rủi ro của một chuỗi các sụp đổ của các tổ chức liên kết với nhau".
Cục Dự trữ liên bang FED cũng đƣa ra định nghĩa tƣơng tự 4 về rủi ro hệ thống trong hệ thống thanh toán: “rủi ro hệ thống có thể xảy ra nếu một tổ chức trong một mạng lƣới thanh toán USD lớn riêng biệt không thể hoặc không sẵn sàng thanh toán số nợ ròng của nó. Nếu xảy ra việc không thanh toán, các chủ nợ của tổ chức trong mạng thanh toán cũng không thể thanh toán các nghĩa vụ của mình. Do đó, hậu quả nghiêm trọng có thể lan sang những TCTC khác trong mạng lƣới riêng biệt, đến các tổ chức tiền gửi khác trong hệ thống và đến cả những tổ chức khác không tham gia vào mạng lƣới và nói chung đến nền kinh tế (Hội đồng thống đốc hệ thống dự trữ liên bang – Board of Governors of the Federal Reserve system, 2001). Tƣơng tự, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 1994) định nghĩa rủi ro hệ thống là "rủi ro mà ngƣời tham gia không đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng và có thể khiến những ngƣời tham gia khác vỡ nợ với phản ứng dây chuyền dẫn đến khó khăn tài chính rộng lớn hơn".
Nhƣ vậy, các định nghĩa trên đã chỉ ra giữa các tổ chức trong thị trƣờng có mối tƣơng quan chặt chẽ với nhau và dẫn đến hiệu ứng lan truyền nếu một ngân hàng xảy ra vấn đề. Nhóm định nghĩa thứ ba về rủi ro hệ thống cũng tập trung vào sự lan tỏa từ một cú sốc ngoại sinh ban đầu, nhƣng không đề cập đến nguyên nhân trực tiếp và dựa trên các mối liên kết yếu hơn và gián tiếp hơn. Kaufmann và Scott (2003) đã đƣa ra định nghĩa sau: “Rủi ro hệ thống là nguy cơ hoặc khả năng đổ vỡ trong toàn bộ hệ thống, ngƣợc lại với sự đổ vỡ ở các bộ phận hoặc cấu phần riêng lẻ, và do sự tƣơng quan giữa phần lớn hoặc tất cả các thành phần của hệ thống.