Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9340201) với đề tài "Tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đỗ Thu Hằng thực hiện tại Học viện Ngân hàng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Hoàng Anh và TS. Nguyễn Phi Lân (bảo vệ năm 2021).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008 đã chứng minh rằng việc giám sát an toàn vi mô đối với từng tổ chức tài chính riêng lẻ không đủ để đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính. Sự sụp đổ mang tính dây chuyền của các định chế lớn làm gián đoạn nguồn cung tín dụng và gây suy thoái kinh tế thực. Tại Việt Nam, hệ thống tài chính có mức độ đan xen ngày càng cao giữa ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm, trong khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng. Giai đoạn 2010 – 2016, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đối mặt với nhiều căng thẳng tài chính. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động vận dụng nhiều công cụ mang bản chất an toàn vĩ mô, Việt Nam vẫn chưa có một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) chính thức và thiếu các nghiên cứu định lượng đánh giá tác động trực tiếp của các công cụ này tới mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu rủi ro hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu định lượng tác động của chính sách ATVM đến rủi ro hệ thống tại các NHTM Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro hệ thống, các phương pháp đo lường rủi ro hệ thống và cơ chế tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tại các NHTM.
- Đo lường thực trạng mức độ rủi ro hệ thống và sự đóng góp rủi ro của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2019 thông qua mô hình định lượng.
- Đánh giá định tính và xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm kiểm định tác động của từng nhóm công cụ và chính sách ATVM tổng hợp đến rủi ro hệ thống của các NHTM Việt Nam.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện khuôn khổ, nâng cao hiệu lực điều hành chính sách ATVM và giảm thiểu rủi ro hệ thống tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tại các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi không gian: 13 NHTM cổ phần niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019, sử dụng chuỗi dữ liệu định lượng theo quý từ Quý 2/2009 đến Quý 4/2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:
| Nhóm chủ đề |
Hướng nghiên cứu cụ thể |
Tác giả và năm công bố tiêu biểu |
Luận điểm / Phát hiện chính |
| Rủi ro hệ thống |
Định nghĩa và cơ chế lan truyền |
Bartholomew & Whalen (1995); Mishkin (1995); Kaufman (1995); BIS (1994); Kaufmann & Scott (2003); ECB (2004); Adrian & Brunnermeier (2009); Acharya và cs (2009); Schwarcz (2008); Smaga (2014); Niedziółka (2011). |
Rủi ro hệ thống bắt nguồn từ cú sốc kích hoạt (nội sinh/ngoại sinh), lan truyền qua liên kết trực tiếp (liên ngân hàng, hợp đồng phái sinh) hoặc gián tiếp (bán tháo tài sản, định giá thị trường), gây tổn hại đến nền kinh tế thực. |
| Đo lường rủi ro hệ thống |
1. Đóng góp rủi ro (SES, MES, SRISK, CoVaR, DIP) |
Acharya và cs (2010); Brownlees & Engle (2012); Huang và cs (2009, 2010); Adrian & Brunnermeier (2009, 2011, 2016). |
Mô hình SRISK (Brownlees & Engle, 2012) kết hợp mức độ thiếu hụt vốn cận biên dài hạn (LRMES), đòn bẩy và quy mô tài sản để lượng hóa mức vốn thiếu hụt của từng ngân hàng khi hệ thống gặp khủng hoảng. |
|
2. Lan truyền trong hệ thống (PoDs, PCA, Granger, Shapley) |
Segoviano & Goodhart (2009); Billio và cs (2010); Tarashev và cs (2010); Gauthier và cs (2010); Castren & Kavonius (2009). |
Đo lường mức độ phụ thuộc phi tuyến, mối quan hệ ma trận giữa các tổ chức tài chính và rủi ro mạng lưới. |
|
3. Cú sốc tổng hợp / Stress-test |
Sorge (2004); Segoviano & Padilla (2007); Castren và cs (2008); Borio & Drehmann (2009); Breuer và cs (2012); Aikman và cs (2009 - RAMSI); Giesecke & Kim (2011); Koopman và cs (2008). |
Đánh giá sức chịu đựng của bảng cân đối kế toán trước các kịch bản vĩ mô bất lợi giả định. |
|
4. Cảnh báo sớm bất cân đối |
Borio & Lowe (2002); Misina & Tkacz (2008); Alessi & Detken (2009); Barrell và cs (2010). |
Sử dụng chỉ báo tỷ lệ tín dụng/GDP, tăng trưởng giá tài sản và đòn bẩy để cảnh báo sớm tích tụ rủi ro. |
| Tác động của chính sách ATVM |
Tác động đến mục tiêu trung gian (tín dụng, vốn, thanh khoản, ngoại hối) |
Lim và cs (2011); Dell’Ariccia và cs (2012); Claessens và cs (2013); Akinci & Olmstead-Rumsey (2018); Cerutti và cs (2017); Avdjilev và cs (2017); Bridges và cs (2015); Noss & Toffano (2016); Laeven và cs (2014); Bluhm & Krahnen (2014); Dagher và cs (2016); Corrado & Schuler (2017); Glocker & Towbin (2012); Tobal (2014); Aguirre & Repetto (2017); Tovar và cs (2012). |
Chính sách ATVM giúp hạn chế tăng trưởng tín dụng quá mức, kiểm soát tỷ lệ đòn bẩy, giảm bất cân xứng kỳ hạn thanh khoản và kiềm chế bùng nổ tín dụng ngoại tệ. Tuy nhiên, một số công cụ có thể dẫn đến dịch chuyển rủi ro sang khu vực phi ngân hàng (Kraft & Galac, 2011). |
|
Tác động đến mục tiêu cuối cùng (rủi ro hệ thống) |
Andries và cs (2017); Gao và cs (2018); Meuleman và cs (2020). |
Thắt chặt công cụ vốn, thanh khoản và giới hạn người đi vay làm giảm mức độ đóng góp vào rủi ro hệ thống và mức độ tổn thương của ngân hàng. |
| Nghiên cứu tại Việt Nam |
Thực trạng rủi ro hệ thống và chính sách ATVM |
Nguyễn Ngọc Vũ (2010); Vũ Thị Kim Liên (2012); Nguyễn Huy Toàn và cs (2019); Vũ Thị Thúy Vân (2019); Bùi Quang Tín (2015); Phạm Tiên Phong và cs (2014); Hà Huy Tuấn (2013); Do Quoc Tho Nguyen (2012); Tô Ngọc Hưng (2014); Phạm Thị Hoàng Anh và cs (2015, 2019). |
Phần lớn nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tiếp cận rủi ro hệ thống theo nghĩa systematic risk hoặc dừng lại ở phân tích định tính khuôn khổ giám sát, chưa lượng hóa tác động của chính sách ATVM đến rủi ro hệ thống (systemic risk) của NHTM. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Phân biệt rõ ràng giữa rủi ro hệ thống thị trường không thể phân tán (systematic risk) và rủi ro sụp đổ mang tính lan truyền trong hệ thống tài chính (systemic risk).
- Lượng hóa rủi ro hệ thống và mức độ đóng góp rủi ro của từng NHTM Việt Nam bằng phương pháp kinh tế lượng hiện đại (SRISK) thay vì các chỉ số định tính đơn lẻ.
- Đánh giá tác động thực nghiệm của các công cụ chính sách ATVM (bao gồm các công cụ tín dụng, vốn, thanh khoản, ngoại hối và chỉ số tổng hợp) trực tiếp tới mục tiêu cuối cùng là mức độ thiếu hụt vốn dự kiến mang tính hệ thống tại các NHTM Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Phân loại rủi ro hệ thống: Luận án dựa trên khung phân loại hai chiều của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2010):
- Chiều thời gian (Time dimension): Phản ánh sự tích tụ rủi ro theo chu kỳ tài chính do hành vi thuận chu kỳ của các TCTC trong mở rộng tín dụng và đòn bẩy (Frait & Komárková, 2010; Nijathaworn, 2009).
- Chiều liên kết chéo (Cross-sectional dimension): Phản ánh sự phân bổ và lan truyền rủi ro tại một thời điểm nhất định thông qua các mối liên kết trực tiếp (dư nợ liên ngân hàng, hợp đồng phái sinh, hạ tầng thanh toán) và liên kết gián tiếp (nắm giữ danh mục tài sản tương tự, bán tháo tài sản, định giá theo thị trường) (Gray & Leibrock, 2015).
- Khuôn khổ chính sách ATVM: Phân biệt rõ mục tiêu trung gian (kiểm soát tăng trưởng tín dụng quá mức, đòn bẩy, bất cân xứng kỳ hạn, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối) và mục tiêu cuối cùng (hạn chế rủi ro hệ thống, bảo đảm ổn định tài chính).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp phân tích định tính và hai mô hình kinh tế lượng định lượng:
[BƯỚC 1: Đo lường rủi ro hệ thống]
Dữ liệu thị trường (Cổ phiếu 13 NHTM & VN-Index)
Mô hình SRISK (Brownlees & Engle, 2012)
Biến phụ thuộc: Giá trị rủi ro hệ thống (SRISK) của từng NHTM theo quý
[BƯỚC 2: Đánh giá tác động chính sách ATVM]
Biến giải thích:
- Nhóm công cụ ATVM (Tín dụng, Vốn, Thanh khoản, Ngoại hối, ATVM tổng hợp)
- Biến kiểm soát Vĩ mô & Thị trường (Tăng trưởng GDP, Lạm phát, VN-Index...)
- Biến đặc thù NHTM (Quy mô tài sản, Đòn bẩy, CAR, CIR, Nợ xấu...)
Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, Fixed Effect Model - FEM)
Kết quả kiểm định tác động của chính sách ATVM đến rủi ro hệ thống
- Mô hình đo lường rủi ro hệ thống SRISK (Brownlees & Engle, 2012):
- Lượng hóa mức độ thiếu hụt vốn dự kiến của một ngân hàng $i$ tại thời điểm $t$ khi toàn bộ thị trường trải qua cú sốc suy giảm lớn (thường giả định thị trường giảm 40% trong vòng 6 tháng).
- Sử dụng mô hình phương sai thay đổi có điều kiện kết hợp tương quan động DCC-GARCH để ước tính độ thiếu hụt vốn cận biên dài hạn ($LRMES_{i,t}$).
- Công thức xác định SRISK dựa trên tỷ lệ an toàn vốn thận trọng tối thiểu, giá trị nợ sổ sách và giá trị vốn hóa thị trường của ngân hàng.
- Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data Regression):
- Đánh giá tác động của các biến công cụ chính sách ATVM (được mã hóa thành các biến chính sách/chỉ số chính sách theo từng nhóm và tổng hợp) đến biến phụ thuộc là giá trị rủi ro hệ thống ($SRISK_{i,t}$).
- Sử dụng các kiểm định thống kê chuyên sâu để lựa chọn giữa hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effect Model - FEM).
- Đưa vào mô hình các biến trễ của rủi ro hệ thống, nhóm biến kinh tế vĩ mô, biến thị trường và nhóm biến tài chính đặc thù của từng ngân hàng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Số liệu tài chính, giá cổ phiếu và vốn hóa thị trường của 13 NHTM niêm yết: Cơ sở dữ liệu FiinPro/FiinGroup, S&P Capital IQ và Báo cáo tài chính kiểm toán của các NHTM.
- Số liệu kinh tế vĩ mô và tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB).
- Số liệu diễn biến thị trường chứng khoán: Chỉ số VN-Index từ Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống
- Hệ thống hóa khái niệm và bản chất rủi ro hệ thống: Làm rõ ba yếu tố cấu thành: (1) Sự kiện kích hoạt (nội sinh từ định chế lớn hoặc ngoại sinh từ cú sốc kinh tế); (2) Các kênh lan truyền qua mạng lưới tài chính; (3) Mức độ tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế thực thông qua việc gián đoạn thanh khoản và cung ứng tín dụng.
- Phân tích cơ chế phát sinh rủi ro hệ thống:
- Phân tích tương tác giữa chu kỳ kinh doanh, chu kỳ chấp nhận rủi ro và chu kỳ tài chính (theo Frait & Komárková, 2010; Nijathaworn, 2009). Trong pha tăng trưởng, sự lạc quan thái quá dẫn đến nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, tăng đòn bẩy và định giá tài sản quá mức; khi kinh tế đảo chiều, quá trình giảm đòn bẩy diễn ra ồ ạt gây đổ vỡ thanh khoản.
- Phân tích rủi ro theo chiều liên kết chéo qua dư nợ liên ngân hàng, giao dịch tài trợ chứng khoán, sự phụ thuộc vào hạ tầng thanh toán và hiệu ứng bán tháo tài sản làm suy giảm giá trị tài sản đảm bảo theo giá thị trường (Gray & Leibrock, 2015).
- So sánh 4 nhóm mô hình đo lường rủi ro hệ thống: Đánh giá ưu điểm và hạn chế của nhóm đo lường đóng góp rủi ro (CoVaR, MES, SRISK, DIP), nhóm đo lường lan truyền (PoDs, Shapley, Network), nhóm mô hình cú sốc tổng hợp (Stress-test, RAMSI) và nhóm mô hình cảnh báo sớm bất cân đối tài chính.
- Khung chính sách và cơ chế truyền dẫn của chính sách ATVM: Phân tích 4 nhóm công cụ chính sách ATVM:
- Công cụ liên quan đến tín dụng: Giới hạn tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo (LTV), tỷ lệ nợ trên thu nhập (DTI/DSTI), trần tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế tăng trưởng nóng và rủi ro tập trung.
- Công cụ liên quan đến vốn: Đệm vốn phản chu kỳ (CCB), yêu cầu vốn bổ sung đối với các ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống trong nước (D-SIB), dự phòng rủi ro động nhằm tăng khả năng hấp thụ tổn thất.
- Công cụ liên quan đến thanh khoản: Tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LDR), trần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn.
- Công cụ liên quan đến ngoại hối: Giới hạn trạng thái ngoại hối mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, trần lãi suất huy động ngoại tệ nhằm giảm thiểu rủi ro tỷ giá và tình trạng đô la hóa.
Chương 2: Thực trạng rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đặc điểm phát triển và tồn tại của hệ thống NHTM Việt Nam (2009 – 2019):
- Giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, nhưng hệ số an toàn vốn (CAR) của hệ thống NHTM Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực ASEAN.
- Tỷ lệ tín dụng/GDP duy trì ở mức cao; giai đoạn 2011 – 2015 ghi nhận tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh do ảnh hưởng của chu kỳ tăng trưởng tín dụng nóng vào bất động sản trước đó, dẫn đến sự ra đời của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC).
- Tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, cơ cấu nguồn vốn còn phụ thuộc lớn vào tiền gửi ngắn hạn trong khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ lệ đáng kể, tạo ra áp lực bất cân xứng kỳ hạn.
- Kết quả ước tính định lượng rủi ro hệ thống (SRISK):
- Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian giá cổ phiếu, vốn hóa thị trường và báo cáo tài chính của 13 NHTM niêm yết trên HOSE và HNX.
- Tính toán các giá trị: Độ biến động có điều kiện, độ thiếu hụt vốn cận biên dài hạn (LRMES), mức đòn bẩy theo giá thị trường và quy mô tài sản tính theo giá trị thị trường.
- Phân tích biến động của tổng giá trị rủi ro hệ thống SRISK toàn hệ thống qua các giai đoạn: SRISK tăng cao trong giai đoạn căng thẳng tái cơ cấu 2011 – 2013 và có sự phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng.
- Lập bảng xếp hạng đóng góp rủi ro hệ thống theo giá trị SRISK tại các thời điểm quan trọng (như ngày 31/12 hàng năm và thời điểm biến động mạnh ngày 31/05/2018), qua đó nhận diện các ngân hàng có quy mô tài sản lớn và đòn bẩy cao là những định chế đóng góp lớn nhất vào rủi ro hệ thống.
Chương 3: Đánh giá tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đánh giá định tính việc thực thi chính sách ATVM tại Việt Nam (2009 – 2019):
- Rà soát các quy định của NHNN về tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (được điều chỉnh theo lộ trình giảm dần nhằm kiểm soát rủi ro thanh khoản).
- Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn, khả năng chi trả trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Thông tư 13/2010/TT-NHNN, Thông tư 36/2014/TT-NHNN, Thông tư 22/2019/TT-NHNN).
- Các biện pháp can thiệp thị trường ngoại hối và chống đô la hóa: Áp trần lãi suất tiền gửi USD (giảm dần về 0%), kiểm soát trạng thái ngoại hối mở.
- Quy định về tỷ lệ an toàn vốn và lộ trình áp dụng chuẩn mực Basel II theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN.
- Kết quả mô hình định lượng và thảo luận:
- Mô hình hồi quy hiệu ứng cố định (FEM) được lựa chọn dựa trên các kiểm định thống kê phù hợp với dữ liệu bảng gồm 13 NHTM qua các quý giai đoạn 2009 – 2019.
- Rủi ro hệ thống kỳ trước: Hệ số hồi quy của biến trễ rủi ro hệ thống mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê cao, chứng minh rủi ro hệ thống có tính quán tính và tích tụ mạnh theo thời gian.
- Tác động của các công cụ chính sách ATVM:
- Các công cụ kiểm soát tín dụng (áp hạn mức tăng trưởng tín dụng, phân loại tài sản rủi ro) có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đối với SRISK, giúp kiềm chế rủi ro hệ thống.
- Các công cụ liên quan đến vốn (yêu cầu nâng cao tỷ lệ CAR và vốn tự có) giúp tăng năng lực hấp thụ tổn thất, qua đó làm giảm giá trị SRISK của ngân hàng.
- Các công cụ thanh khoản (hạ trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, kiểm soát tỷ lệ LDR) có tác động tích cực trong việc giảm căng thẳng thanh khoản và giảm thiểu rủi ro hệ thống.
- Các công cụ ngoại hối (hạ trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ, kiểm soát dư nợ cho vay ngoại tệ) làm giảm tình trạng đô la hóa và giảm sự nhạy cảm của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc tỷ giá.
- Chỉ số chính sách ATVM tổng hợp có mối tương quan nghịch chiều rõ rệt với rủi ro hệ thống.
- Tác động của các biến vĩ mô, thị trường và đặc thù ngân hàng: Tăng trưởng kinh tế ổn định và sự phát triển lành mạnh của chỉ số VN-Index giúp giảm SRISK; ngược lại, quy mô nợ xấu cao, đòn bẩy tài chính lớn và tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tăng cao làm gia tăng mức độ rủi ro hệ thống của từng NHTM.
Chương 4: Khuyến nghị chính sách
- Định hướng hoàn thiện chính sách ATVM tại Việt Nam: Xây dựng chiến lược chính sách ATVM đồng bộ, xác định rõ các giai đoạn kích hoạt công cụ phù hợp với chu kỳ tài chính và chu kỳ kinh tế.
- Khuyến nghị hoàn thiện bộ công cụ chính sách ATVM:
- Nhóm công cụ tín dụng: Chuẩn hóa công cụ LTV và DTI/DSTI có phân hóa theo phân khúc tài sản (đặc biệt là bất động sản cao cấp và đầu cơ); duy trì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có chọn lọc gắn với chất lượng tín dụng và mức độ an toàn vốn.
- Nhóm công cụ vốn: Triển khai áp dụng đầy đủ bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCB) theo chuẩn mực Basel III và xác định khung pháp lý đối với các ngân hàng D-SIB để yêu cầu tỷ lệ đệm vốn bổ sung.
- Nhóm công cụ thanh khoản: Tiếp tục giám sát chặt chẽ tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, áp dụng từng bước tỷ lệ LCR và NSFR theo thông lệ quốc tế.
- Nhóm công cụ ngoại hối: Duy trì chính sách ổn định thị trường ngoại hối, kiểm soát chặt chẽ đối tượng và điều kiện vay vốn bằng ngoại tệ.
- Khuyến nghị về mô hình tổ chức và cơ chế phối hợp giám sát:
- Xác lập rõ ràng cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm điều hành chính sách ATVM (vai trò trung tâm của NHNN).
- Tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp chính sách giữa NHNN, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và UBGSTCQG.
- Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu vi mô - vĩ mô để nâng cao năng lực phân tích cảnh báo sớm và kiểm tra sức chịu đựng (stress-testing) của toàn hệ thống tài chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về rủi ro hệ thống: Luận án làm rõ các khái niệm, phân biệt giữa rủi ro hệ thống phi đa dạng hóa (systematic risk) và rủi ro lan truyền đổ vỡ (systemic risk), phân tích nguyên nhân theo cả chiều thời gian (tính thuận chu kỳ) và chiều liên kết chéo (mạng lưới tài chính).
- Tổng hợp và so sánh 4 nhóm mô hình đo lường rủi ro hệ thống hiện đại: Đánh giá chi tiết cơ chế hoạt động, ưu điểm và điều kiện ứng dụng của các mô hình đo lường mức độ đóng góp rủi ro, lan truyền rủi ro, cú sốc tổng hợp và chỉ báo cảnh báo sớm mất cân đối tài chính.
- Làm rõ khung phân tích tác động của chính sách ATVM: Phân định rõ mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng của chính sách ATVM; hệ thống hóa cơ chế truyền tải của 4 nhóm công cụ (tín dụng, vốn, thanh khoản, ngoại hối) tới việc giảm thiểu rủi ro hệ thống.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Lượng hóa rủi ro hệ thống bằng mô hình SRISK tại Việt Nam: Luận án là công trình tiên phong áp dụng mô hình SRISK (Brownlees & Engle, 2012) kết hợp DCC-GARCH trên bộ dữ liệu giá thị trường và báo cáo tài chính của 13 NHTM niêm yết trong suốt giai đoạn 2009 – 2019. Nghiên cứu xác định được mức thiếu hụt vốn dự kiến và thứ hạng đóng góp rủi ro của từng ngân hàng vào các thời điểm biến động mạnh của thị trường tài chính Việt Nam.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu lực của chính sách ATVM: Thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM), luận án chứng minh rằng việc thực thi các công cụ chính sách ATVM (riêng lẻ từng nhóm và chỉ số tổng hợp) tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2019 đã phát huy hiệu lực thực tế trong việc kiềm chế và giảm thiểu rủi ro hệ thống tại các NHTM.
- Đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách có tính ứng dụng: Luận án đưa ra khung thời điểm can thiệp, gợi ý nhóm công cụ phù hợp với từng mục tiêu trung gian và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều phối giám sát an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Về mẫu nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung vào mẫu 13 NHTM cổ phần có cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán (HOSE và HNX) do yêu cầu bắt buộc của mô hình SRISK cần dữ liệu giá thị trường hàng ngày. Mẫu nghiên cứu chưa bao quát toàn bộ các NHTM chưa niêm yết và các định chế tài chính phi ngân hàng (bảo hiểm, công ty tài chính, công ty chứng khoán).
- Về tần suất và chuỗi dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo quý trong giai đoạn 2009 – 2019. Việc thiếu vắng các chuỗi dữ liệu chi tiết vi mô về từng khoản vay (như giá trị LTV, DTI thực tế của từng hợp đồng tín dụng) khiến việc đo lường một số công cụ chính sách phải sử dụng biến giả chính sách hoặc chỉ số tổng hợp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi đo lường rủi ro hệ thống sang toàn bộ khu vực tài chính (bao gồm chứng khoán và bảo hiểm) khi có thêm các định chế niêm yết.
- Áp dụng các mô hình phi tuyến tính hoặc phân tích mạng lưới chi tiết (Network Analysis) dựa trên dữ liệu giao dịch liên ngân hàng thời gian thực để mô phỏng chính xác hơn đường truyền lan của các cú sốc.
Giá trị tham khảo
- Đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, UBGSTCQG):
- Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm để chính thức hóa khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
- Cung cấp công cụ định lượng (SRISK) phục vụ công tác giám sát, nhận diện các định chế có tầm quan trọng hệ thống (D-SIB) và xây dựng kịch bản kiểm tra sức chịu đựng định kỳ.
- Đối với Ban quản trị và Quản trị rủi ro tại các Ngân hàng Thương mại:
- Giúp các nhà quản trị ngân hàng nhận thức rõ mối liên hệ giữa các quyết định tài chính vi mô (đòn bẩy, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, chất lượng tín dụng) với mức độ nhạy cảm và đóng góp vào rủi ro chung của hệ thống.
- Hỗ trợ xây dựng chiến lược vốn và thanh khoản chủ động nhằm đáp ứng lộ trình áp dụng chuẩn mực Basel II và Basel III.
- Đối với Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng:
- Là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp kinh tế lượng ứng dụng trong đo lường rủi ro tài chính (mô hình DCC-GARCH, LRMES, SRISK, Fixed Effect Model).
- Hệ thống hóa phong phú nguồn tài liệu tổng quan quốc tế và thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ - an toàn vĩ mô tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "Systemic risk" và "Systematic risk" như thế nào?
Trong lý thuyết tài chính, cả hai thuật ngữ đều được dịch sang tiếng Việt là "rủi ro hệ thống" nhưng mang hàm ý hoàn toàn khác nhau:
- Systematic risk: Là rủi ro thị trường tổng thể (kinh tế vĩ mô) không thể loại trừ bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư, gắn liền với mức độ biến động giá của các công cụ tài chính theo xu hướng thị trường chung.
- Systemic risk: Là rủi ro sụp đổ hoặc gián đoạn nghiêm trọng của toàn bộ hệ thống tài chính, bắt nguồn từ việc một hoặc một nhóm tổ chức tài chính gặp khó khăn/vỡ nợ, lan truyền qua các mối liên kết mạng lưới làm suy giảm chức năng cung cấp vốn và thanh khoản cho toàn bộ nền kinh tế thực. Luận án tập trung nghiên cứu bản chất Systemic risk.
2. Mô hình định lượng nào được tác giả sử dụng để đo lường mức độ rủi ro hệ thống của các NHTM Việt Nam?
Tác giả sử dụng mô hình SRISK được phát triển bởi Brownlees & Engle (2012). Mô hình này đo lường giá trị thiếu hụt vốn dự kiến mang tính hệ thống của từng NHTM trong điều kiện thị trường chứng khoán suy giảm 40% trong khoảng thời gian 6 tháng. Để tính toán SRISK, tác giả sử dụng mô hình tương quan động DCC-GARCH nhằm ước tính độ thiếu hụt vốn cận biên dài hạn ($LRMES$), kết hợp với tỷ lệ an toàn vốn thận trọng tối thiểu, giá trị nợ sổ sách và vốn hóa thị trường của 13 NHTM niêm yết trên HOSE và HNX.
3. Các nhóm công cụ chính sách an toàn vĩ mô nào được đưa vào mô hình kiểm định định lượng?
Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM) của luận án kiểm định tác động của 4 nhóm công cụ chính sách an toàn vĩ mô và 1 chỉ số tổng hợp:
- Nhóm công cụ tín dụng: Quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng, phân loại tài sản có rủi ro.
- Nhóm công cụ vốn: Quy định về hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), vốn tự có.
- Nhóm công cụ thanh khoản: Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ khả năng chi trả.
- Nhóm công cụ ngoại hối: Trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ, quy định trạng thái ngoại hối mở.
- Chỉ số chính sách ATVM tổng hợp: Tổng hợp các biện pháp ATVM được áp dụng trong giai đoạn nghiên cứu.
4. Kết quả thực nghiệm rút ra kết luận gì về hiệu lực của chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2019?
Kết quả hồi quy mô hình hiệu ứng cố định (FEM) cho thấy các công cụ chính sách ATVM (cả từng nhóm công cụ riêng lẻ về tín dụng, vốn, thanh khoản, ngoại hối và chỉ số tổng hợp) đều có mối tương quan nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đối với giá trị rủi ro hệ thống ($SRISK$). Điều này chứng minh rằng việc NHNN chủ động vận dụng linh hoạt các công cụ mang tính cẩn trọng vĩ mô trong giai đoạn 2009 – 2019 đã phát huy hiệu lực thực tế trong việc kiểm soát sự tích tụ rủi ro và giảm thiểu tổn thất tiềm ẩn của hệ thống NHTM Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thu Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về rủi ro hệ thống và chính sách an toàn vĩ mô trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2019. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận hiện đại và các mô hình kinh tế lượng tiên tiến (DCC-GARCH, SRISK, FEM), luận án đã lượng hóa thành công mức độ thiếu hụt vốn dự kiến mang tính hệ thống của 13 NHTM niêm yết, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc về hiệu lực làm giảm thiểu rủi ro hệ thống của các công cụ chính sách an toàn vĩ mô. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về an toàn vĩ mô, cũng như cho các nhà nghiên cứu và quản trị ngân hàng trong công tác kiểm soát rủi ro hệ thống tài chính tại Việt Nam.