Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức tín dụng (TCTD) giữ vai trò là định chế trung gian tài chính chủ chốt, tạo lập huyết mạch cung ứng vốn cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư xã hội. Khác với các doanh nghiệp thông thường, vốn đối với TCTD vừa là phương tiện vừa đóng vai trò như “hàng hóa” kinh doanh. Do đó, nhu cầu vốn của các TCTD là thường xuyên và không giới hạn về lượng. Để duy trì hoạt động kinh doanh, quy mô vốn tự có của các TCTD thường chiếm tỷ trọng nhỏ, nguồn lực vận hành chủ yếu dựa vào vốn huy động từ xã hội. Khả năng huy động vốn quyết định trực tiếp đến quy mô cấp tín dụng, năng lực thanh toán và mức độ an toàn của từng ngân hàng cũng như sự an toàn của toàn hệ thống tài chính quốc gia.

Tuy nhiên, bối cảnh thị trường tiền tệ Việt Nam những năm gần đây bộc lộ nhiều bất ổn và thiếu minh bạch. Hệ thống pháp luật chuyên ngành còn khoảng trống, thiếu tính đồng bộ, tạo kẽ hở cho các hiện tượng tiêu cực như sở hữu chéo phức tạp, lách luật trong huy động vốn và gia tăng rủi ro hệ thống. Một biểu hiện điển hình của sự thiếu chặt chẽ trong khung pháp lý và khâu thực thi được tác giả viện dẫn là vụ việc người dân gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) bị nhân viên tư vấn sai sự thật, chuyển đổi từ tiền gửi sang hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Manulife hoặc các gói đầu tư rủi ro. Thực tiễn này đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu hệ thống hóa và đánh giá toàn diện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD tại Việt Nam.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nhã Trang (MSSV: K20DCQ094, Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: ThS. Đào Anh Tuyết, năm 2023) xác định mục tiêu tổng quát là đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về huy động vốn của TCTD, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản gồm:

  1. Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn và nội dung pháp luật quy định về hoạt động huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam (khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò, quy định về chủ thể và các hình thức huy động vốn).
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật quy định về hoạt động huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam và thực trạng áp dụng các quy định pháp luật trên thực tiễn.
  3. Rút ra một số kiến nghị theo hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn của các TCTD tại Việt Nam trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng.

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào: các vấn đề lý luận về huy động vốn và pháp luật huy động vốn của TCTD; thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng; các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật. Về phạm vi nghiên cứu, không gian tập trung vào pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động huy động vốn của TCTD, có sự tham khảo, so sánh với pháp luật quốc tế. Do giới hạn của khóa luận tốt nghiệp, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu dưới lăng kính pháp lý chuyên ngành Luật Ngân hàng, tập trung vào khía cạnh pháp lý của các hình thức huy động vốn và vướng mắc thực tiễn, không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ ngân quỹ hay kế toán ngân hàng.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nền tảng lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên sự phân tích bản chất pháp lý của quan hệ tài chính ngân hàng. Tác giả đã tự tổng hợp và đưa ra hai khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Hoạt động huy động vốn của các TCTD: Là hoạt động mà trong đó các TCTD tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân TCTD theo đúng các quy định pháp luật. Bản chất của quan hệ huy động vốn là quan hệ vay nợ bình đẳng, xác lập vị thế TCTD là bên vay (con nợ) và người gửi tiền/nhà đầu tư là bên cho vay (chủ nợ).
  • Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD: Là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các TCTD huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.

Hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở nghiên cứu thực định bao gồm:

  • Văn bản luật: Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; Luật Chứng khoán năm 2019; Luật Các công cụ chuyển nhượng.
  • Văn bản dưới luật: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN (hoạt động cho vay, đi vay giữa các TCTD); Thông tư số 24/2019/TT-NHNN (tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng); Thông tư số 01/2021/TT-NHNN (phát hành giấy tờ có giá của TCTD); Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN (nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn bằng vàng); Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Đề án phát triển ngành Ngân hàng).

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, khóa luận áp dụng bốn phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật thực định về chủ thể và từng hình thức huy động vốn, chỉ ra ưu điểm và kẽ hở pháp lý.
  • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để khái quát hóa các nhận định, kết luận từng chương và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Phương pháp khảo sát và khái quát hóa: Sử dụng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn thi hành pháp luật, số liệu tăng trưởng vốn huy động, dư nợ trên địa bàn Hà Nội, quy mô hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và các vụ việc vi phạm thực tế.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định giữa Luật Các TCTD năm 1997 với Luật Các TCTD năm 2010 (về phân loại TCTD, trần sở hữu cổ phần); so sánh quy định giữa Luật Các TCTD với Luật Chứng khoán năm 2019 trong quan hệ phát hành trái phiếu; so sánh pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc tế về các sản phẩm tiền gửi linh hoạt.

Nguồn dữ liệu của công trình được trích xuất từ hệ thống văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu trước đây (của các tác giả Ngô Quốc Kỳ, Nguyễn Văn Tuyển, Hoàng Tuyết Mai, Đào Anh Tuyết, Trần Minh Hải), số liệu thống kê ngành ngân hàng tại Hà Nội và thông tin thực tiễn từ cơ quan điều tra, các cơ quan báo chí (Báo Đại biểu Nhân dân, Báo Người Lao động).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về huy động vốn và pháp luật về huy động vốn của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

Chương 1 thiết lập khung lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn và vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Tác giả phân tích vốn đối với TCTD là loại hàng hóa kinh doanh đặc biệt. Hoạt động huy động vốn có bốn đặc điểm pháp lý cơ bản: (i) Chủ thể huy động là các TCTD được cấp phép với điều kiện thành lập và vận hành nghiêm ngặt; (ii) Là hoạt động thường xuyên, chủ yếu và gắn liền với kế hoạch kinh doanh; (iii) Bản chất pháp lý là quan hệ vay nợ có hoàn trả cả gốc lẫn lãi dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng; (iv) Được điều chỉnh bởi hành lang pháp lý chặt chẽ do mức độ rủi ro mang tính phản ứng dây chuyền đối với toàn bộ nền kinh tế.

Về phương diện lập pháp, tác giả chỉ rõ bước chuyển biến lớn trong cách phân loại chủ thể TCTD. Nếu như Luật Các TCTD năm 1997 phân loại dựa trên tính chất sở hữu vốn điều lệ (TCTD Nhà nước, cổ phần, hợp tác, có vốn đầu tư nước ngoài) bộc lộ sự thiếu bình đẳng khi Việt Nam gia nhập WTO, thì Luật Các TCTD năm 2010 đã đổi mới căn bản bằng việc phân loại theo phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh thành bốn nhóm: TCTD là ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, Tổ chức tài chính vi mô và Quỹ tín dụng nhân dân.

Căn cứ Mục 1 Chương 3 Luật Các TCTD năm 2010, tác giả hệ thống hóa bốn hình thức huy động vốn cơ bản của TCTD:

  • Nhận tiền gửi: Hình thức quan trọng nhất, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu.
  • Phát hành giấy tờ có giá (GTCG): Huy động trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, bản chất là hành vi vay nợ dài hạn và trung hạn từ công chúng.
  • Vay vốn giữa các TCTD: Vay mượn trên thị trường liên ngân hàng nhằm giải quyết thanh khoản ngắn hạn và bù đắp dự trữ bắt buộc.
  • Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước: Hình thức tái cấp vốn đặc thù áp dụng khi TCTD đối mặt với tình trạng thiếu hụt khả năng thanh toán tạm thời hoặc phục vụ chính sách tiền tệ khẩn cấp.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện hoạt động này

Chương 2 là trọng tâm của khóa luận, kết hợp đánh giá chi tiết các quy phạm thực định với thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật.

Về quy định đối với chủ thể huy động vốn:

  • TCTD là ngân hàng: Được phép thực hiện toàn bộ các hình thức huy động vốn. Pháp luật đã hoàn thiện cơ chế an toàn thông qua xu hướng đại chúng hóa NHTM cổ phần. Điều 55 Luật Các TCTD năm 2010 đã siết chặt tỷ lệ sở hữu: cổ đông cá nhân giảm từ 10% xuống tối đa 5%; cổ đông pháp nhân giảm từ 20% xuống tối đa 15%; cổ đông và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ. Điều 126 quy định chặt chẽ hạn chế cấp tín dụng đối với các đối tượng liên quan tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, bất cập lớn phát sinh từ Điều 90 Khoản 2 khi quy định TCTD không được kinh doanh ngoài phạm vi giấy phép; các nghiệp vụ phái sinh, vàng, ngoại hối buộc phải lập công ty con, gây cản trở tiếp cận thông lệ quốc tế.
  • TCTD phi ngân hàng (Công ty tài chính): Chỉ được nhận tiền gửi từ tổ chức, không được nhận tiền gửi của cá nhân. Quy định tại Khoản 1 Điều 127 (văn bản trích dẫn Điều 17) giới hạn tổng mức cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc ưu đãi đối với các đối tượng quản lý, cổ đông lớn không quá 5% vốn tự có. Tác giả nhận định quy định này chưa phù hợp với mô hình công ty tài chính trực thuộc các tập đoàn kinh tế — vốn có chức năng điều phối vốn nội bộ giữa các công ty thành viên.
  • Tổ chức tài chính vi mô: Theo Khoản 1 Điều 119 Luật Các TCTD năm 2010, chỉ được nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi của khách hàng tài chính vi mô bằng Đồng Việt Nam; được vay vốn từ các tổ chức trong và ngoài nước nhưng bị cấm phát hành GTCG và không được vay tái cấp vốn từ NHNN. Điển hình hoạt động hiệu quả là Quỹ Tình Thương (TYM) và Quỹ trợ vốn CEP, tuy nhiên khung pháp lý cho phân khúc này còn thiếu hướng dẫn cụ thể.
  • Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND): Đến tháng 10/2023, cả nước có 1.179 QTDND cơ sở hoạt động tại 57/63 tỉnh, thành phố với gần 1,8 triệu thành viên hộ gia đình, tổng nguồn vốn hoạt động đạt hơn 38.524 tỷ đồng (chưa tính Quỹ tín dụng trung ương). QTDND chỉ được nhận tiền gửi và vay vốn TCTD khác, không được phát hành GTCG và không được vay NHNN. Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động của nhóm này còn nghèo nàn.

Về quy định đối với các hình thức huy động vốn:

  • Nhận tiền gửi: Luật Các TCTD năm 2010 chưa theo kịp thực tiễn khi các NHTM chủ động áp dụng các sản phẩm tiền gửi linh hoạt phổ biến trên thế giới như tài khoản NOW, tài khoản ATS (được NHTMCP Kỹ Thương áp dụng), cho vay thấu chi trên tài khoản tiền gửi thanh toán, hoặc tiền gửi tiết kiệm hỗn hợp (Techcombank, Eximbank). Việc thiếu khung khổ pháp lý cho các sản phẩm này đẩy rủi ro về phía khách hàng. Về lãi suất, Điều 91 trao quyền tự chủ định đoạt lãi suất cho TCTD nhưng cho phép NHNN can thiệp áp trần khi thị trường bất thường, dẫn đến tình trạng lãi suất huy động biến động thiếu ổn định.
  • Phát hành GTCG: Thông tư số 01/2021/TT-NHNN đã mở rộng đối tượng mua GTCG cho cả tổ chức, cá nhân nước ngoài. Song, Thông tư 01/2021/TT-NHNN bộc lộ sai lệch lý luận khi dùng khái niệm “mua bán” GTCG tại Điều 4, làm lu mờ bản chất đây là quan hệ vay nợ. Hơn nữa, việc điều chỉnh phát hành trái phiếu ngân hàng theo thông tư riêng mà chưa thống nhất với Luật Chứng khoán năm 2019, đồng thời bỏ sót chế định "Hối phiếu nhận nợ", đã tạo ra sự chia cắt thị trường.
  • Vay vốn giữa các TCTD: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN (được sửa đổi bởi Thông tư số 01/2013/TT-NHNN) giới hạn thời hạn vay dưới một năm, cấm nhận tiền gửi liên ngân hàng và bắt buộc phải có tài sản bảo đảm, xóa bỏ cơ chế tín chấp. Quy định này hỗ trợ tái cơ cấu khoảng 10 TCTD yếu kém, nhưng lại "bịt cửa" cứu nguy thanh khoản của các ngân hàng thương mại nhỏ. Bị dồn vào thế khó, các ngân hàng nhỏ buộc phải lách luật (chuyển hợp đồng tiền gửi thành tiền vay, đáo hạn nợ khống, chuyển sang giao dịch ngoại tệ hoặc thỏa thuận ngầm vượt trần lãi suất dân cư).
  • Tái cấp vốn của NHNN: Điều kiện cho vay lại theo hồ sơ tín dụng tại Điều 12 Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quá khắt khe (phải sử dụng hết GTCG, đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về hồ sơ tín dụng), khiến các TCTD quy mô nhỏ gần như không thể tiếp cận nguồn vốn khẩn cấp từ NHNN.
  • Huy động vốn bằng vàng: Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN từng cho phép huy động và chuyển đổi vàng sang VND. Tuy nhiên, biến động giá vàng lớn đã làm các TCTD mất thanh khoản khi chi trả, kích thích đầu cơ, làm trầm trọng thêm tình trạng đô la hóa và tác động xấu đến tỷ giá hối đoái.

Về thực tiễn áp dụng và những hạn chế vi phạm: Tác giả dẫn chứng kết quả huy động vốn tại Hà Nội: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân giai đoạn 2020-2022 đạt trên 25%/năm; tính đến cuối năm 2006, tổng nguồn vốn huy động đạt 314.799 tỷ đồng (chiếm 30% cả nước); tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân 2020-2022 đạt trên 22%/năm, đạt 116.244 tỷ đồng vào cuối năm 2022 (tăng 4% so với năm 2020). Dẫu vậy, quyền lợi của người gửi tiền bị đe dọa nghiêm trọng do quy trình kiểm soát lỏng lẻo. Khóa luận nêu hai vụ việc cụ thể trong năm 2023:

  • Vụ việc tại Phòng giao dịch Ba Triệu thuộc Ngân hàng Bắc Á (Thanh Hóa) tháng 6/2023: Giao dịch viên phát hiện và phối hợp công an ngăn chặn kịp thời bà Trịnh Thị T. bị thao túng tâm lý rút 945 triệu đồng để chuyển cho đối tượng lừa đảo mạo danh công an.
  • Vụ việc tại Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) chi nhánh 165 Xã Đàn (Hà Nội): Ngày 21/11/2023, khách hàng Nguyễn Thị Thanh Thủy gửi đơn phản ánh việc đến gửi tiết kiệm 100 triệu đồng (kỳ hạn 5 năm) từ tháng 5/2021 nhưng bị nhân viên lập khống hồ sơ, giả mạo chữ ký để chuyển thành hợp đồng bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Life (sản phẩm “Món quà phú quý”).

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Trong phần nội dung của Chương 3 có trong văn bản, tác giả tập trung xác lập ba yêu cầu mang tính nguyên tắc chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của TCTD:

  • Đảm bảo tính thống nhất và sự phù hợp giữa các văn bản pháp luật: Khắc phục tình trạng mâu thuẫn giữa pháp luật ngân hàng chuyên ngành và pháp luật chung (như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán); xử lý xung đột nội tại giữa các thông tư của NHNN nhằm tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định.
  • Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Quy định pháp luật phải tôn trọng quy luật cung - cầu vốn khách quan; từng bước chuyển đổi từ cơ chế hành chính áp đặt trần lãi suất sang cơ chế lãi suất thả nổi theo tín hiệu thị trường; cụ thể hóa Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm dung hòa giữa an toàn hệ thống và quyền tự chủ kinh doanh của TCTD.
  • Đảm bảo sự tương thích với các nguyên tắc, thông lệ quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế: Nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về an toàn vốn, tạo điều kiện thuận lợi và bảo hộ quyền kinh doanh bình đẳng của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nhã Trang đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể, được chứng minh qua số liệu và căn cứ pháp lý:

Nhóm TCTD (Luật 2010) Quyền nhận tiền gửi Phát hành GTCG Vay vốn liên ngân hàng Vay tái cấp vốn NHNN
NHTM Toàn quyền (mọi loại kỳ hạn, đối tượng) Có Có (thời hạn dưới 1 năm theo TT 21/2012) Có (Điều kiện Điều 12 TT 24/2019)
TCTD phi ngân hàng Chỉ nhận từ tổ chức, cấm nhận từ cá nhân Có Có Không
Tài chính vi mô Tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi khách hàng (bằng VND) Không Có (TCTD, tổ chức trong/ngoài nước) Không
QTDND Nhận tiền gửi thành viên/tổ chức/cá nhân Không Có Không

Bên cạnh bảng tổng hợp thẩm quyền theo luật định, các kết quả định lượng và pháp lý nổi bật của khóa luận gồm:

  • Làm rõ sự thay đổi căn bản trong trần sở hữu cổ phần NHTM cổ phần tại Điều 55 Luật Các TCTD năm 2010: cổ đông cá nhân giảm từ 10% xuống 5%, pháp nhân giảm từ 20% xuống 15%, nhóm liên quan tối đa 20% nhằm chống sở hữu chéo.
  • Phản ánh số liệu phát triển mạng lưới Quỹ tín dụng nhân dân đến tháng 10/2023 với 1.179 đơn vị tại 57/63 tỉnh, thành phố, huy động hơn 38.524 tỷ đồng từ gần 1,8 triệu thành viên.
  • Tổng hợp kết quả huy động vốn tại Hà Nội với mức tăng trưởng bình quân trên 25%/năm (giai đoạn 2020-2022); dư nợ năm 2022 đạt 116.244 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân trên 22%/năm).
  • Chỉ ra hệ quả tái cơ cấu khoảng 10 TCTD yếu kém sau khi Thông tư 21/2012/TT-NHNN siết chặt hoạt động vay mượn liên ngân hàng.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Sửa đổi bản chất pháp lý trong Thông tư 01/2021/TT-NHNN từ giao dịch "mua bán" sang đúng bản chất giao dịch "vay nợ/cho vay"; thống nhất quy chế phát hành trái phiếu TCTD theo Luật Chứng khoán năm 2019 và bổ sung chế định Hối phiếu nhận nợ.
  • Xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh các hình thức tiền gửi hiện đại (tài khoản NOW, ATS, tiền gửi hỗn hợp, thấu chi tài khoản).
  • Nới lỏng có kiểm soát điều kiện tái cấp vốn tại Điều 12 Thông tư 24/2019/TT-NHNN và hoàn thiện quy chế thị trường liên ngân hàng tại Thông tư 21/2012/TT-NHNN để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM nhỏ.
  • Xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động tư vấn tại quầy nhằm ngăn chặn triệt để hành vi biến tướng tiền gửi tiết kiệm thành bảo hiểm nhân thọ (bancassurance).
  • Chuyển đổi cơ chế điều hành lãi suất từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế thị trường tự do thỏa thuận có kiểm soát.

Về đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các công trình trước đây (Phan Thị Huyền Trang 2004, Phạm Thị Trang 2005, Hoàng Tuyết Mai 2010, Ngô Quốc Kỳ 2003, Nguyễn Văn Tuyển 2004) chủ yếu dựa trên Luật Các TCTD năm 1997 đã hết hiệu lực và hầu như chỉ tập trung vào khối NHTM. Khóa luận này đã cập nhật toàn bộ khung pháp lý theo Luật Các TCTD năm 2010 và các thông tư mới (Thông tư 21/2012, Thông tư 24/2019, Thông tư 01/2021), đồng thời bao quát cả bốn phân nhóm TCTD trong mối liên hệ với các vụ việc phát sinh thực tế năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về mặt thời gian và dung lượng quy định của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, tác giả tự nhận định công trình chưa thể mô tả toàn bộ các khía cạnh nghiệp vụ chuyên sâu của hoạt động ngân hàng mà chỉ tập trung vào khía cạnh pháp lý của các hình thức huy động. Phần nghiên cứu giải pháp tại Chương 3 trong văn bản mới dừng lại ở các định hướng, yêu cầu mang tính nguyên tắc chỉ đạo mà chưa hoàn thiện chi tiết toàn bộ các điều khoản kiến nghị sửa đổi luật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu việc sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD trong giai đoạn mới; tập trung hoàn thiện cơ chế pháp lý cho các nghiệp vụ tài chính phái sinh, sản phẩm tiền gửi kỹ thuật số, và xây dựng khung pháp lý xử lý dứt điểm các vướng mắc trong phân phối bảo hiểm qua kênh ngân hàng (bancassurance).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp lý đối với thị trường tiền tệ và hệ thống định chế tín dụng.
  • Cán bộ pháp chế tại các NHTM, công ty tài chính, QTDND: Tham khảo các phân tích về giới hạn sở hữu cổ phần, điều kiện phát hành giấy tờ có giá và các nghĩa vụ pháp lý trong giao dịch huy động vốn.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước): Giá trị từ những phát hiện bất cập trong các thông tư điều hành nghiệp vụ liên ngân hàng (Thông tư 21/2012/TT-NHNN) và phát hành giấy tờ có giá (Thông tư 01/2021/TT-NHNN).

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất gồm: Phần phân tích đối sánh bản chất pháp lý của quan hệ phát hành GTCG giữa "vay nợ" và "mua bán" tại Chương 2; phân tích tác động hai mặt của Thông tư 21/2012/TT-NHNN đối với thị trường liên ngân hàng; và hệ thống các tình huống vi phạm thực tiễn trong huy động vốn năm 2023.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra điểm bất hợp lý nào về bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá (GTCG) theo Thông tư số 01/2021/TT-NHNN? Theo tác giả, bản chất việc TCTD phát hành GTCG ra công chúng là thỏa thuận vay nợ, TCTD là bên vay (tiếp nhận vốn) và khách hàng là bên cho vay (đầu tư vốn gián tiếp). Tuy nhiên, Điều 4 Thông tư số 01/2021/TT-NHNN lại dùng khái niệm “đối tượng mua giấy tờ có giá”, đánh đồng giao dịch vay vốn thành quan hệ “mua bán” tài sản, khiến các bên tham gia không nhận thức đúng quyền và nghĩa vụ vay - trả nợ theo luật định.

2. Luật Các TCTD năm 2010 đã điều chỉnh tỷ lệ sở hữu cổ phần như thế nào để hạn chế sở hữu chéo tại các NHTM cổ phần? Căn cứ Điều 55 Luật Các TCTD năm 2010, tỷ lệ sở hữu cổ phần bị siết chặt: cổ đông cá nhân bị hạ từ mức tối đa 10% xuống 5%; cổ đông pháp nhân hạ từ 20% xuống 15% vốn điều lệ (trừ trường hợp đặc biệt do NHNN quyết định); cổ đông và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD.

3. Vì sao tác giả cho rằng quy định giới hạn cấp tín dụng tại Khoản 1 Điều 127 (ghi Điều 17) Luật Các TCTD 2010 không phù hợp với các công ty tài chính? Quy định khống chế tổng dư nợ cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc ưu đãi đối với các đối tượng liên quan (người quản lý, cổ đông lớn, công ty thành viên) không vượt quá 5% vốn tự có là phù hợp với NHTM nhưng bất cập với công ty tài chính. Bởi thực tế, đa số công ty tài chính trực thuộc các tập đoàn kinh tế lớn với nhiệm vụ chủ đạo là điều phối vốn và giải quyết bài toán tài chính nội bộ giữa các công ty thành viên trong tập đoàn.

4. Thông tư số 21/2012/TT-NHNN đã gây ra những khó khăn gì cho các NHTM quy mô nhỏ trên thị trường liên ngân hàng? Thông tư 21 cấm nhận tiền gửi liên ngân hàng, rút thời hạn vay xuống dưới 1 năm và xóa bỏ cơ chế tín chấp, đòi hỏi 100% tài sản bảo đảm. Các NHTM nhỏ có uy tín và mạng lưới thấp, thiếu tài sản cầm cố nên bị loại khỏi thị trường liên ngân hàng, mất đi kênh hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp, buộc phải tìm cách lách luật (thay đổi hợp đồng tiền gửi thành tiền vay, thỏa thuận ngầm vượt trần lãi suất dân cư hoặc chuyển sang giao dịch ngoại tệ).

5. Khóa luận dẫn chứng các vụ việc thực tế cụ thể nào để chứng minh quyền lợi của người gửi tiền bị đe dọa? Tác giả dẫn chứng hai vụ việc năm 2023: Vụ việc tại Ngân hàng Bắc Á - Phòng giao dịch Ba Triệu (Thanh Hóa) tháng 6/2023 khi nhân viên ngân hàng kịp thời can thiệp giúp bà Trịnh Thị T. không bị lừa chuyển 945 triệu đồng cho nhóm tội phạm mạo danh công an; và vụ việc ngày 21/11/2023 tại Ngân hàng MB chi nhánh 165 Xã Đàn (Hà Nội), khách hàng Nguyễn Thị Thanh Thủy đi gửi 100 triệu đồng tiết kiệm nhưng bị nhân viên lập khống hồ sơ chuyển thành hợp đồng bảo hiểm MB Ageas Life ("Món quà phú quý").

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nhã Trang đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực định về pháp luật huy động vốn của các TCTD tại Việt Nam theo Luật Các TCTD năm 2010. Bằng phương pháp nghiên cứu luật học kết hợp dẫn chứng thực tiễn sinh động, công trình đã chỉ rõ những lỗ hổng pháp lý nổi cộm trong điều hành thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá và tình trạng xâm phạm quyền lợi người gửi tiền. Các định hướng hoàn thiện được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần xây dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.