Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực thi đấu của vận động viên các môn thể thao. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu. Năng lực, theo các chuyên gia tâm lý học, đó là tổng hợp những đặc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả [9], [30], [94], [99].
Năng lực thể thao là đặc điểm mang tính cá thể, cho phép vận động viên thực hiện và hoàn thành một nhiệm vụ vận động nào đó, với một thành tích nhất định, được hình thành trong quá trình tập luyện và thi đấu thể thao [32], [58]. Quá trình hình thành các năng lực diễn ra trên cơ sở của các dấu hiệu tiềm ẩn về đặc điểm giải phẫu – sinh lý bẩm sinh, mà trước hết là đặc điểm năng lực bẩm sinh của hệ thần kinh trung ương, cấu trúc của cơ thể, của các thuộc tính của bộ máy thần kinh – cơ, .các thuộc tính thần kinh không quyết định đến quá trình phát triển năng lực, nhưng trên nền tảng của chúng sẽ làm giảm nhẹ quá trình hình thành nhân cách, trong khi năng lực là sự phối hợp nhất quán của cả năng lực tâm lý và sinh lý. Mức độ phát triển năng lực thể thao diễn ra không đồng đều và có đặc tính giai đoạn [27], [61], [93], [110]. Tâm lý, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là thuộc tính của vật chất có tổ chức cao (não bộ), là hình thức đặc biệt của sự phản ánh hiện thực khách quan – kết quả của sự tác động qua lại của chủ thể sống với môi trường xung quanh [54], hoặc tâm lý, theo Đại từ điển tiếng Việt, đó là tổng thể sự nhận thức, tình cảm, ý chí của mỗi một con người [63] hoặc tâm lý là toàn bộ thế giới tinh thần 6 của con người [61].
Tâm lý tồn tại dưới những hình thức khác nhau: quá trình, trạng thái, thuộc tính [54]. Tâm lý học là khoa học nghiên cứu các quy luật hình thành, biểu hiện và phát triển của tâm lý trong quá trình tiến hóa của thế giới sinh vật (phát sinh chủng loài) và trong quá trình phát sinh cá thể ở người [54], hoặc tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu nguyên lý nảy sinh và vận hành thế giới tinh thần trong đời sống hàng ngày của con người [61], hoặc tâm lý học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của con người [63]. Tâm lý học thể thao là một lĩnh vực chuyên ngành của khoa học tâm lý, nghiên cứu những quy luật cơ bản của sự biểu hiện và phát triển tâm lý của cá nhân hoạt động (vận động viên) trong những điều kiện đặc thù của hoạt động thể thao [57], [60]. Trạng thái tâm lý là đặc điểm hoạt động của các chức năng/hiện tượng tâm lý (hoạt tính tâm lý) tại một thời điểm/khoảng thời gian nào đó [61], [64].
Trạng thái tâm lý trước thi đấu là trạng thái của các chức năng tâm lý của vận động viên xảy ra trước các cuộc thi đấu từ hàng tuần đến vài ngày, vài giờ, thậm chí ngay trước lúc xuất phát [61], [64]. Biện pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt, đó là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể [63]. Liệu pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt, đó là cách chữa bệnh [63]. Thuật ngữ này chủ yếu được dùng trong y học (tiếng Anh là: therapy, therapeutics).
Biểu hiện, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là sự biểu lộ cảm xúc bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.trong một hoàn cảnh nhất định [63]. Hiện tượng, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là khái niệm nói lên cái xuất hiện ra với chúng ta trong kinh nghiệm, thông qua các giác quan. Hiện tượng biểu hiện một cái gì ẩn giấu. Hiện tượng tâm lý là hiện tượng ‘tinh thần’ 7 thuộc về chủ quan, nảy sinh và phát triển trong quá trình hoạt động giao tiếp, phản ánh, thích ứng với cải tạo thế giới khách quan [63].
Các nhân tố quyết định năng lực thi đấu của vận động viên các môn thể thao. Sự cao thấp về năng lực thi đấu của VĐV bất kỳ môn thể thao nào đều được quyết định bởi các năng lực như tâm lý, kỹ thuật, thể lực, trí lực. Trong đó thể lực lại bao gồm trạng thái về ba phương diện là hình thái, cơ năng và tố chất; năng lực kĩ thuật, chiến thuật của VĐV có thể khái quát thành kỹ năng (hình 1. Năng lực thi đấu Chiến thuật Hình thái Kỹ thuật Cơ năng Tố chất Tâm lý Trí lực Thể lực Kỹ Năng Nguồn: Nguyễn Tiên Tiến và cộng sự (2017) [44] Hình 1.
Các nhân tố cấu thành năng lực thể thao Thế nhưng, tác dụng của các nhân tố kể trên lên năng lực thể thao tổng thể của VĐV lại căn cứ vào sự khác nhau về đặc điểm của nhóm môn thể thao mà có sự khác biệt rõ ràng (xem bảng 1). Phân biệt mức độ tác dụng của các nhân tố quyết định lên năng lực thi đấu của các VĐV của các nhóm môn khác nhau Loại thể năng Loại kĩ năng Sức Tốc Sức Tính biểu hiện Tính đối kháng bền độ bền Khó Chuẩn Cách Cùng Quyền tốc độ đẹp xác lưới sân cước Hình thái ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ Cơ năng ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ Tố chất ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ Kĩ thuật ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ Chiến thuật ∆ ∆ ∆∆ ∆ ∆ ∆∆∆ ∆∆∆ ∆∆∆ Tâm lí ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ Trí năng ∆ ∆ ∆ ∆ ∆ ∆∆ ∆∆ ∆∆ * ∆∆∆: tác dụng mang tính quyết định, ∆∆: tác dụng quan trọng, ∆: tác dụng mang tính cơ sở Nguồn: Nguyễn Tiên Tiến và cộng Sự (2017) [44] Mức độ phát triển tố chất sức bền động lực và năng lực làm việc của hệ thống tim mạch đối với các VĐV nhóm môn sức bền loại thể năng, là nhân tố mang tính quyết định trình độ năng lực thi đấu của VĐV, đối với các VĐV thể dục dụng cụ, mức độ quan trọng của tố chất sức bền lại được giảm thấp một cách đáng kể. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác huấn luyện VĐV nhóm môn đối kháng của loại thể năng là bồi dưỡng ý thức chiến thuật mãnh liệt trong các hoạt động mang tính đối kháng mạnh và nỗ lực nâng cao khả năng làm ra phản ứng thích ứng đối với các hoạt động của đối thủ, tiếp đó là năng lực chiến thuật khắc chế đối thủ để giành chiến thắng; còn trong huấn luyện bắn súng, thì cần tập trung vào việc bồi dưỡng VĐV không chịu sự quấy nhiễu của đối thủ và môi trường thi đấu, tập trung cao độ sự chú ý vào năng lực tự khống chế tâm lý. VĐV thể dục nghệ thuật và trượt băng nghệ thuật thì mỗi một động tác nhấc tay, một bước đặt chân đều cần phải chú ý cái đẹp của tư thế 9 thân người, biểu hiện ra khí chất thanh cao, lòng nhiệt tình biểu diễn, đối với các VĐV ném đẩy vật thì căn bản không cần phải quá chú ý đến tư thế của mình có tạo cảm giác tốt cho người khác không, đương nhiên cũng không nhất thiết phải đặt nặng một cách có ý thức cảm giác đẹp về hình thể, năng lực thi đấu được phát triển cao độ của họ được biểu hiện một cách đầy đủ ở việc ném dụng cụ đi được càng xa hoặc vật ngã đối thủ [44], [90], [101].
Cùng là một loại năng lực thể thao, tác dụng của nó đối với năng lực thể thao chỉnh thể của VĐV cũng cùng với sự khác nhau của nhóm môn thể thao mà có sự khác biệt rõ rệt. Ví dụ, trình độ kỹ thuật của VĐV đối với việc phát triển năng lực thể thao cao độ của VĐV mỗi môn thể thao đều có ý nghĩa quan trọng không thể xem nhẹ. Nhưng đối với các nhóm môn khác nhau, sự khác nhau về mức độ tác dụng của nó vẫn biểu hiện ra sự khác biệt rõ nét. Đặc điểm chung về tâm sinh lý của vận động viên thể thao.
Đặc điểm tâm sinh lý tuổi 16 – 20 [35], [43], [60], [62]. Đặc điểm phát triển sinh lý học tuổi 16-20: Hệ thần kinh: Các biểu hiện cơ bản của hoạt động thần kinh cao cấp hoàn thiện hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển mạnh và có ưu thế so với hệ thống tín hiệu thứ nhất. Khả năng tư duy phân tích tổng hợp trừu tượng hóa và khả năng giao tiếp ngày càng được hoàn thiện làm sự nhận thức được mở rộng. Độ linh hoạt của các quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế được cân bằng, các loại hình hoạt động thần kinh thể hiện rõ rệt.
Sự phối hợp động tác tới kỹ xảo. Hệ thần kinh trung ương đã phát triển đầy đủ, do đó hoạt động phân tích và tổng hợp của nó đã trở nên tốt hơn. Hệ thống tín hiệu thứ hai đã phát triển đạt mức hoàn thiện cao thể hiện không chỉ ở ngôn ngữ miệng và viết của học sinh đã phát triển đạt trình độ cao, mà cả ngôn ngữ bên trong cũng biểu hiện rất đa dạng. 10 Hệ vận động: - Hệ xương: Vẫn tiếp tục được cốt hóa mãi tới năm 24 – 25 tuổi mới hoàn thiện, các cơ tăng khối lượng và đạt 43 – 44% trọng lượng toàn thân.
Sự cốt hóa bộ xương, điều đó có nghĩa là đã giảm sự phát triển chiều dài. Quá trình đó xảy ra do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc quanh sụn. - Hệ cơ: Cùng với lứa tuổi khối lượng cơ tăng dần, tuy nhiên sự tăng trưởng cơ xảy ra không đều, trong 15 năm đầu sự tăng trưởng của cơ vào khoảng 9%, còn 2 – 4 năm sau là 12%, ở người trưởng thành là 40%. Từ 20 tuổi khối lượng cơ tăng lên 7 – 8 lần, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ khác tăng 9 – 14 lần.Các cơ phát triển tương đối nhanh, các cơ co phát triển chậm hơn các cơ duỗi.
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển và hoàn thiện. Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh. Các kích thước tuyệt đối cũng như tương đối của tim ở mức cao hơn trẻ em, ví dụ: trẻ em 8 – 10 tuổi trọng lượng tim tuyệt đối vào khoảng 96g; 15 tuổi 200g và 18 – 20 tuổi khoảng 300g. Tần số co bóp của tim ở người trưởng thành, lứa tuổi 17 – 20 nam khoảng 70 – 80 lần/phút và của nữ khoảng 75 – 85 lần/phút.
Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng nhưng sau vận động mạch và huyết áp hồi phục nhanh chóng.