MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Nông nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của Việt Nam, là nền tảng của nền kinh tế trong thời kỳ xây dựng đất nƣớc. Cây cà chua (Lycopersicon esculentum.
Mill) là cây thực phẩm ngắn ngày có khả năng trồng trọt đƣợc ở nhiều vùng tại Việt Nam. Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng và có nhiều cách sử dụng. Có thể dùng ăn tƣơi thay hoa quả, trộn salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang và cũng có thể chế biến thành các sản phẩm nhƣ cà chua cô đặc, tƣơng cà chua, nƣớc sốt nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nƣớc ép. Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua để lấy dầu.
Theo Đỗ Tất Lợi (1999), cà chua có thể giúp bảo vệ những ngƣời nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ bị bệnh phổi. Đặc biệt lycopen trong quả cà chua có tác động mạnh đến việc giảm sự phát triển nhiều loại ung thƣ nhƣ ung thƣ tiền liệt tuyến, ung thƣ ruột kết, ung thƣ trực tràng và nhồi máu cơ tim,. Cà chua là sản phẩm đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng và có giá trị kinh tế cao cho ngƣời sản xuất. Vậy mà vẫn còn những trƣờng hợp cà chua bị đổ bỏ đi rất nhiều mà không đƣợc thu mua, đơn giản vì kém chất lƣợng, các thành phần dƣ lƣợng thƣờng vƣợt ngƣỡng cho phép nông sản an toàn.
Ngƣời nông dân thƣờng sử dụng phân không cân đối giữa phân hữu cơ và phân vô cơ, có nhiều nơi họ không còn sử dụng phân hữu cơ nữa mà chủ yếu dùng phân vô cơ. Sử dụng nhiều phân vô cơ cho rau đặc biệt là phân đạm với liều lƣợng ngày càng cao, do vậy mà nền nông nghiệp nƣớc ta đang phải đối mặt với những khó khăn nhƣ: chất lƣợng nông sản ngày càng giảm sút, nhiều loại c 2 nông sản không đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, nhiều loại rau quả bị dƣ thừa nitrat, gây độc và không bảo quản chế biến đƣợc. Hiện nay nƣớc ta gia nhập vào WTO nhà nƣớc càng quan tâm đến chất lƣợng sản phẩm nhiều hơn, đặc biệt là chất lƣợng rau. Do vậy nhà nƣớc đã kêu gọi sự đầu tƣ từ trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài về vốn, giống, khoa học kỹ thuật.
Để cây cà chua sinh trƣởng phát triển tốt, đạt năng suất cao nhất, đòi hỏi phải cung cấp nguồn dinh dƣỡng đầy đủ hợp lý, cần phải có nhiều nghiên cứu về dinh dƣỡng cho cây rau nói chung và cây cà chua nói riêng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chúng tôi tiến hành đề tài: ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chất lượng của cà chua Việt Á tại Bắc Kạn vụ xuân hè 2017’’ 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục tiêu Xác định đƣợc tổ hợp phân bón hợp lý đối với giống cà chua Việt Á đạt năng suất cao, đảm bảo an toàn sản phẩm tại Bắc Kạn 1.2 Yêu cầu - Đánh giá khả năng sinh trƣởng, phát triển của cà chua ở các lƣợng phân bón khác nhau trong vụ Xuân Hè 2017. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân bón khác nhau đến tình hình sâu bệnh hại cà chua trong vụ Xuân Hè 2017.
- Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân bón khác nhau đến năng suất và chất lƣợng của cà chua vụ Xuân Hè 2017. - Hạch toán hiệu quả kinh tế. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Cà chua là cây có giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế cao là cây trồng có thể trồng trên vùng rau chuyên canh hoặc có thể trồng trong cơ cấu cây vụ đông trên đất lúa mà không ảnh hƣởng đến 2 vụ lúa.
Trên cơ sở yêu cầu sinh thái của cây cà chua, với điều kiện đất đai và khí hậu của tỉnh Bắc Kạn, những giống cà chua mới có thể sinh trƣởng phát triển tốt và cho năng suất cao. Hiện nay một số giống cà chua mới cho năng suất chất lƣợng cao đã đƣợc công nhận giống quốc gia đang đƣợc trồng trên một số vùng chuyên canh ở nƣớc ta nhƣ: Công ty Hoa Sen có giống VL 2910, VL 2922, VL 2000, VL 2004, GS 1200, Việt Á. Giống cà chua Việt Á là dạng cây sinh trƣởng vô hạn, kháng bệnh tốt, trồng quanh năm. Trái tròn vuông, thịt dày cứng, chín đỏ đẹp, chắc, thích hợp cho vận chuyển xa.
Trái nặng 80 - 100 g, năng suất có thể đạt 4 – 5 kg trái/cây nếu trồng chính vụ và chăm sóc tốt. Ở nƣớc ta việc phát triển trồng cà chua cũng có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau đƣợc khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, việc trồng cà chua chƣa đƣợc phát triển mạnh theo mong muốn vì cà chua trồng trong điều kiện nóng ẩm ở nƣớc ta dễ mắc nhiều sâu bệnh hại, đáng kể nhƣ sâu ăn lá, sâu đục quả, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh xoăn lá do virus khó phòng trừ. Sử dụng lƣợng phân bón quá nhiều không phải lúc nào cũng có kết quả hữu hiệu.
Sử dụng nhiều không những làm ô nhiễm môi trƣờng sống để lại dƣ lƣợng độc tố trong quả, ảnh hƣởng không ít đến sức khỏe của con ngƣời. c 4 Vì vậy, việc tìm ra đƣợc lƣợng phân bón hợp lí để đạt đƣợc năng suất và đảm báo đƣợc chất lƣợng là điều vô cùng cần thiết. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 2. Điều kiện tự nhiên: * Vị trí địa lý: xã Sỹ Bình nằm ở phía đông bắc của huyện Bạch Thông cách trung tâm huyện 10km + Phía Đông giáp xã Vũ Muộn huyện Bạch Thông + Phía Tây giáp xã Tân Tiến, Thị trấn Phủ Thông huyện Bạch Thông + Phía Nam giáp xã Nguyên Phúc, xã Cao Sơn huyện Bạch Thông + Phía Bắc giáp xã Hƣơng Nê và xã Lãng Ngâm huyện Ngân Sơn.
* Địa hình: Địa hình của xã Sỹ Bình là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt bởi hệ thống Sông, Suối, núi đồi trùng điệp thung lũng sâu tạo thành các kiểu hình khác nhau tƣơng đối phức tạp, địa hình núi cao, độ dốc lớn bình quân 26 - 30 o , diện tích núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chiếm khoảng 10%, thôn xa nhất cách trung tâm xã 10 km, giao thông di lại đƣợc đầu tƣ loại đƣờng cấp 5 qua trung tâm xã. Thủy văn chủ yếu là suối nhỏ, nguồn nƣớc phục vụ sản xuất khó khăn, mùa khô gây ra hạn hán, mùa mƣa gây nƣớc lũ cục bộ. * Khí hậu: - Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm mƣa nhiều, mùa đông rét và ít mƣa. Có thể chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 có mƣa nhiều + Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau c 5 * Thủy văn: Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã chủ yếu là các con suối đƣợc phân bố khá dày đặc, song hầu hết đều ngắn lƣu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn. Nhìn chung hệ thống sông ngòi trên địa bàn xã đƣợc chi phối trực tiếp bởi cấu tạo địa hình. Về mùa mƣa địa hình dốc lớn gây ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân. Chế độ thủy văn của xã phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông suối, hồ đập trong khu vực của toàn xã và khu vực phụ cận, các khe nhỏ có độ dốc dọc, thủy văn lớn vì thế sau các trận mƣa thƣờng xảy ra lũ quét.
* Đất đai: -Tổng diện tích tự nhiên của xã: 2751,56 ha Trong đó: + Đất nông nghiệp: 2505,37 ha chiếm 91,05% + Đất sản xuất nông nghiệp: 397,21 ha chiếm 14,44% + Đất lâm nghiệp: 2106,17 ha chiếm 76,54 % + Đất nuôi trồng thủy sản: 1,99 ha chiếm 0,072% + Đất phi nông nghiệp: 84,89 ha chiếm 3,09% + Đất chƣa sử dụng: 161,3 ha chiếm 5,86% * Tài nguyên: Có nhiều diện tích rừng, núi đá, mỏ quặng sắt, khai thác tận thu gỗ phục vụ cho chế biến lâm sản đồ dân dụng bàn, ghế, giƣờng tủ phục vụ cho nhu cầu nhân dân trong xã và ngoài xã.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: + Về dân cư: xã Sỹ Bình có 394 hộ gồm 5 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa), tổng dân số 1784 ngƣời, tổng số lao động 1300 ngƣời chiếm 72%. Lao động tuổi từ 16 đền 30 chiếm 25%, lao động từ 31 đến 50 tuổi chiếm 65%, lao động từ 51 đến 60 tuổi chiếm 10%. c 6 Tổng số có 11 thôn bản, xã thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc chƣơng trình 135 CP giai đoạn II của Chính Phủ. Các dân tộc Tày, Nùng, Dao chiếm đa số: - Dân tộc Tày chiếm 54% - Dân tộc Dao chiếm 23 % - Dân tộc Nùng chiếm 15% - Dân tộc Kinh, Hoa chiếm 8% Cơ sở hạ tầng thiết yếu: - Toàn xã có 95% hộ dân đƣợc sử dụng điện sinh hoạt, có đƣờng ô tô đến trung tâm xã, các thôn có đƣờng liên thôn, đƣờng mòn, có chợ trung tâm cụm xã, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, có 11 phòng học của 2 cấp học tiểu học và trung học cơ sở, có 01 phân trƣờng gồm 03 phòng học, 02 trƣờng mầm non.
Hệ thống thủy lợi đƣợc đầu tƣ các kênh mƣơng phục vụ cho 80% diện tích trồng lúa, trồng màu, 60% hộ đƣợc sử dụng nƣớc sinh hoạt tập trung, có trạm phát thanh truyền hình địa phƣơng, cơ sở hạ tầng thiết yếu cơ bản đã đáp ứng đƣợc yêu cầu phục vụ cho phát triển kinh tế. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà trên thế giới Cà chua đƣợc phát triển trên toàn Thế giới do sự tăng trƣởng tối ƣu của nó trong nhiều điều kiện phát triển khác nhau. Các loại cà chua đƣợc trồng trọt phổ biến nhất là loại quả đƣờng kính khoảng 5 - 6 cm.
Hầu hết các giống đƣợc trồng đề cho ra trái cây màu đỏ, nhƣng một số giống cho quả vàng, cam, hồng, tím, xanh lá cây, đen hoặc màu trắng. Đặc biệt có loại cà chua nhiều màu và có sọc. Cà chua là loại cây trồng tuy đƣợc chấp nhận nhƣ một loại thực phẩm và có lịch sử phát triển tƣơng đối muộn nhƣng do nó có khả năng thích ứng rộng và hiệu quả kinh tế và giá trị sử dụng cao. c 7 Trên thế giới đã có nhiều giống mới đƣợc ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời cả về số lƣợng và chất lƣợng.