Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu bap 1.1 Nguồn gốc và phân loại Theo Tripathi và Ranjini (2011), nguồn gốc phát sinh của cây đậu bắp vẫn còn còn đang tranh cãi có hai giả thuyết ngược nhau: Giả thuyết thứ nhất cho rằng cây đậu bắp có nguồn gốc ở Nam Á. Giả thuyết thứ hai thì cho rằng ở Ethiopia và Tây Phi. Đậu bắp có tên gọi của một số ngôn ngữ phương Tây, như tên tiếng Anh là “Okra” có nguồn gốc từ Tây Phi, nguời Ai Cập và người Moor trong thé kỷ 12 va 13 đã sử dụng tiếng A Rap dé chỉ loài cây này, cho thay nó đã được đưa vào Ai Cập từ A Rap nhưng trước đó nó có thé lay từ Ethiopia đến A Rập. Một ghi chép sớm nhất là của Ibn Jubay (1145 - 1217), một người Moor ở Tây Ban Nha đã tới Ai Cập vào năm 1216 và miêu tả loài cây này được dân cư bản địa gieo trồng và sử dụng các quả non.
Đến năm 1748, nó đã được trồng và phát triển xa về phía bắc tới Philadelphia. Thomas Jefferson đã ghi nhận rằng nó đã chắc chắn có mặt tai Virginia vào năm 1781. Cây đậu bắp được trồng rộng rãi khắp miền Nam Hoa kỳ vào khoảng năm 1800 và lần đầu tiên được đề cập đến với các giống khác nhau là năm 1906. Cây đậu bắp còn có tên gọi là mướp tây 14 một loài cây hằng niên với bộ nhiễm sắc thé 2n = 72, là loài thực vật có hoa.
Cây đậu bắp có tên khoa học là (Abelmoschus esculentus (L.) Moench), thuộc phân lớp Số (Dilleniidae), Bộ Bông (Malvales), Họ Bông (Malvaceae), chi Abelmoschus, loài Albemoschus esculentus (Đặng Minh Quan, 2004).2 Đặc điểm thực vat hoc Cây đậu bắp là cây thân thao, mọc đứng, nhiều lông, cao trung bình 1 - 1,5 m. Cây đậu bắp có một rễ chính và nhiều rễ phụ, ăn từ 40 - 50 cm, lá hình tim hoặc xẻ chân 3 vịt từ 4 - 5 thuỳ, mép có răng cưa lớn, có lông nhám. Hoa đậu bắp thuộc hoa lưỡng tính có màu trắng hoặc vàng gồm một nhuy cái ở giữa và nhiều nhị đực xung quanh. quả nang, tiết điện 5 cạnh, dài từ 20 - 25 cm chứa nhiều hạt, khi còn non có màu trắng, chín màu đen (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây đậu bắp Nhiệt độ: Cây đậu bắp có thé sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ từ 18 - 35°C, nhưng thích hợp nhất là từ 25 - 30°C, cần nhiều ánh sáng, trong điều kiện nhiệt độ này, nếu nhiệt độ càng cao thì sinh trưởng và phát triển càng nhanh.
Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây. Đối với sự nảy mầm, nhiệt độ thích hợp là từ 25 - 35°C (Nguyễn Mạnh Chinh và Pham Anh Cường, 2007). Am độ va ánh sáng: Yêu cầu 4m độ đất cao từ 75 - 80%, âm độ không khí từ 60 - 70%. Đậu bắp là cây có phản ứng với độ dài ngày, mức độ mẫn cảm tùy thuộc vào giống.
Tuy nhiên trong điều kiện nước ta, mặc dù là cây ngày ngắn nhưng đậu bắp vẫn ra hoa được trong cả mùa hé (Nguyễn Mạnh Chinh va Pham Anh Cường, 2007). Nước: Theo Minh Quân (2004), mặc dù cây đậu bắp là cây có khả năng chịu hạn tốt, nhưng vẫn đòi hỏi nhiều nước để sinh trưởng và cho năng suất tối ưu. Việc thiếu nước trầm trọng gây tác động xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây, mức thiệt hại tùy vào từng thời kỳ phát triển. Đậu bắp dé bị tác động do thiếu nước trong giai đoạn sinh sản, năng suất sẽ bị anh hưởng lớn nhất nếu thiếu nước lúc ra hoa va tạo quả.
Nguồn nước sử dụng dé tưới không bị ô nhiễm có thể lấy từ sông hay giếng khoan (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Thảo, 2020). Dat: Theo Minh Quân (2004) đậu bắp cũng có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng. Đề cho cây sinh trưởng tốt thì đòi hỏi đất phải có hàm lượng chất hữu cơ cao, loại đất cát pha, thịt nhẹ hoặc đất trung bình, pH dao động từ 5,5 - 6,8. Đất phải bằng phẳng và thoát nước tốt (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Thảo, 2020).
Dat đai và dinh dưỡng: Cây đậu bắp có thé trồng trên mọi loại đất, nhưng không ngập úng, thoát nước tốt, tốt nhất là đất thịt pha cát có nhiều mùn, có độ pH từ 6 - 8, cây đậu bắp đòi hỏi lượng dinh dưỡng khá cao, khoảng 20 - 30 tắn phân chuồng, 100 kg N, 100 kg PzOs, 60 kg K20, 500 kg phân bánh dầu cho một hecta với năng suất khoảng 10 tan/ha, khi trồng lên luống cao từ 20 - 30 cm dé tránh ngập ing (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).2 Tổng quan về phân bón lá 1.1 Khái niệm về phân bón lá Phân bón là những chất hoặc hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ có chứa một hay nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu được đưa vào trong sản xuất nông nghiệp với mục đính chính là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm giúp chúng sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suât cao. Theo Nghị định của Chính phủ về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón (2019), các loại phân bón bao gồm: phân bón vô cơ, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân đa yếu tố, phân phức hợp, phân trộn, phân vi sinh, phân bón lá và các loại phân có bồ sung chat điều hòa sinh trưởng. Phân bón lá được sử dụng ở Việt Nam từ đầu những năm 1980 của thế kỷ trước, tuy nhiên phải đến năm 2000, thuật ngữ phân bón lá mới được chính thức đề cập trong các văn bản pháp qui của Nhà nước (Bùi Huy Hiền và ctv, 2013). Theo Bộ NN&PTNT (2019), phân bón lá là các loại phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân lá.
Phân bón lá hiện nay rất đa dạng, có thể gồm các loại phân đơn như: P, Zn,N, Cu, các loại phân bón lá hỗn hợp gồm có các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng hoặc có thé bổ sung thêm thành phan vi sinh vật có lợi cho cây trồng. Ngoài ra, một số loại phân bón lá còn được bồ sung thêm các chat kích thích sinh trưởng dé cây phát triển tốt hơn, tăng năng suất, chất lượng cây trồng. Theo Bộ NN&PTNT (2019), phan bón hữu cơ sinh học là phân bón trong thành phần có chất hữu cơ và chất sinh học là chỉ tiêu chất lượng chính. Theo Bùi Huy Hiền và ctv (2017), phân bón hữu co sinh học là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ theo quy trình lên men có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác.
Loại phân này được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp.) phơi khô, nghiền nhỏ, ủ lên men với vi sinh vật có tuyên chọn. Tiêu chuẩn của phân hữu cơ sinh học như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 22%; Am độ đối với phân bon dang bột không vượt quá 25%; hàm lượng Nis không thấp hơn 2,5%; hàm lượng axit humic (đối với phân chế biến từ than bùn) không thấp hơn 2,5% hoặc tổng hàm lượng các chất sinh học (đối với phân chế biến từ nguồn hữu cơ khác) không thấp hơn 2,0% hoặc pHuao (đối với phân hữu cơ sinh học bón qua lá) trong khoảng từ 5 - 7. Nếu phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thì tổng hàm lượng các chất này không vượt quá 0,5% (Bùi Huy Hiền và ctv, 2017). Như vậy phân bón lá hữu cơ sinh học là loại phân bón được sản xuất ra từ nguồn nguyên liệu hữu cơ có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác, được sử dụng bằng cách tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp chất dinh đưỡng cho cây trồng thông qua thân lá.2 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng Vai trò của phân bón lá ngày càng tăng do việc sử dụng lâu dai các nguyên tố dinh dưỡng đa, trung lượng mà không có bổ sung các chất vi lượng; hơn nữa, nhiều nguyên tố, nhất là vi lượng dễ bị kết tủa khi thay đổi môi trường đất, rửa trôi nên việc đưa các nguyên tô này vào cây trồng thông qua lá là phương pháp hiệu quả.
Theo kết quả điều tra của Bùi Huy Hiền và Cao Kỳ Sơn (2008) cho thấy rằng hầu hết phân bón lá cho hiệu lực nhanh, kinh tế hơn khi bón vào đất do cây sử dụng đến 95% lượng dinh dưỡng bón vào, trong khi hệ số sử dụng phân bón tương tự khi bón vào đất chỉ đạt 45 - 50%, thậm chí thấp hơn. Một trong những nguyên nhân cơ bản là cây trồng tiếp nhận dinh đưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15 - 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ. Như vậy, mục tiêu chính khi sử dụng phân bón lá là: - Bồ sung thêm các chất dinh dưỡng còn thiếu mà đất và phân bón đa lượng không thể cung cấp đủ. - Giúp cây trồng khắc phục các hạn chế khi việc cung cấp dinh dưỡng qua đất bị ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, phan ứng của đất, hoặc xuất hiện các yêu tố dinh dưỡng đối kháng.
- Cung cấp các chất dinh dưỡng theo hướng tăng cường chức năng, nhất là trong các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây (hình thành quả, củ, chỉ tiêu chất lượng). - Hạn chế mất chất dinh dưỡng trong đất do bị cố định hoặc bi rửa trôi. Một số nguyên tố dinh dưỡng, thậm chí được khuyến cáo chỉ nên bón qua lá như bón sắt vào đất kiềm, bón các nguyên tố vi lượng. Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoai các nguyên tô đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có.
Do đó, khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng. Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bồ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng.3 Ưu nhược điểm của phân bón lá 1.