Đặt vấn đề Dưa lưới là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với hàm lượng dinh dưỡng cao, rất có lợi cho sức khỏe, được nhiều người ưa thích và khá phổ biến trên thế giới. Được du nhập vào Việt Nam cách đây không lâu nhưng với nhiều hình dạng, màu sắc cùng hương vị thơm ngọt, dưa lưới đã và đang dần được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Dưa lưới có hình quả ôval, da quả màu xanh, khi chín thương phẩm ngả xanh vàng và có các đường gân trắng đan xen như lưới nên có tên gọi là vân lưới. Thịt quả dưa vân lưới thường màu vàng da cam nghiêng vàng đỏ.
Hiện nay mức sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về năng suất và chất lượng cũng theo đó mà ngày càng tăng. Sau khi vấn đề an ninh lương thực được giải quyết, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Dưa lưới đang là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao ở Việt Nam, là trái cây giàu dinh dưỡng như: vitamin A, C, chất xơ, chất khoáng, chất chống oxy hóa,. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, dưa có sinh khối lớn về thân, lá, hoa và đặc biệt là quả.
Chính vì thế, để cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và chất lượng cao, cần cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây dưa lưới. Nguồn dinh dưỡng cung cấp từ đất không đáng kể đối với nhu cầu của cây nên phải bổ sung phần lớn qua phân bón. Luan van 2 Nhằm giải quyết vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến sinh trưởng, phát triển, chất lượng của giống dưa lưới tại trường Đại học Nông Lâm”. Mục tiêu và yêu cầu 1.
Mục tiêu Xác định được loại phân bón phù hợp cho sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống dưa lưới Hàn Quốc Hanuri trồng trong nhà có mái che. Yêu cầu - Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại phân bón tới khả năng sinh trưởng của giống dưa lưới Hàn Quốc Hanuri tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại phân bón đến mức độ sâu bệnh hại của giống dưa lưới Hàn Quốc Hanuri tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại phân bón đến năng suất, chất lượng của giống dưa lưới Hàn Quốc Hanuri tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của chuyên đề là cơ sở khoa học góp phần xây dựng phương pháp bón phân theo hướng an toàn và hiệu quả, đồng thời là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về nâng cao khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng cho cây rau nói chung và cây dưa lưới nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài bước đầu xác định được các loại phân bón phù hợp với giống dưa lưới Hàn Quốc Hanuri tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp thêm thông tin có ích cho nông dân trong sản xuất dưa lưới, góp phần quản lý đồng ruộng có hiệu quả,vừa nâng cao được năng suất cây trồng, giảm chi phí, tăng thêm lợi nhuận, vừa đảm bảo an toàn, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường.
Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sự sinh trưởng của dưa lưới Hàn Quốc ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu. Dưa lưới Hàn Quốc Hanuri là giống mới được nhập nội trong thời gian gần đây nên chưa có được nhiều nghiên cứu cho các giống dưa mới này. Trong sản xuất nông nghiệp giống tốt, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật chăm sóc có liên quan mật thiết tới cây trồng nói chung và cây dưa lưới nói riêng.
Bởi vậy để phát triển giống dưa lưới Hàn Quốc theo hướng phù hợp với điều kiện khí hậu, canh tác của Việt Nam để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt cần có những nghiên cứu tổng hợp, trong đó việc lựa chọn loại phân bón phù hợp nhằm tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định. Góp phần đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng của cây, tăng cường khả năng quang hợp, thúc đẩy bộ rễ phát triển. Quả to, ngọt đậm, màu sắc sáng đẹp, hàm lượng đường tăng lên, kéo dài thời gian quả tươi tự nhiên.
Nâng cao sức đề kháng cho cây, giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh thối quả, phấn trắng, chạy dây, thối thân, héo xanh vi khuẩn…cho thu hoạch sớm hơn thời vụ đại trà từ 3 – 5 ngày, chất lượng tốt, làm tăng năng suất từ 20 – 30%. Ngoài ra cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thiết yếu từ đất, nhưng khả năng cung cấp của đất có hạn, việc thâm canh qua nhiều năm khiến đất đai bị suy kiệt, giảm độ phì nhiêu, đất bạc màu, dần dần mất đi khả năng sản xuất, mất đi khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Nên việc sử dụng phân bón rất quan trọng, để cung cấp các dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng sinh Luan van 5 trưởng, phát triển khỏe mạnh, đạt năng suất cao và trả lại cho đất lượng dinh dưỡng cây trồng đã lấy đi từ đất. Nguồn gốc, phân loại Dưa lưới (Cucumis melo) thuộc: Bộ bầu bí (Cucurbitales), họ bầu bí (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L.
Dưa lưới có lớp vỏ cứng màu lục với những đường gân trắng đan xen nhau như lớp lưới rất độc đáo. Quả dưa lưới có trọng lượng trung bình từ 1,5kg đến 3,5kg. Dưa lưới có nguồn gốc từ châu Phi và Ấn Độ. Người Ai Cập là người đầu tiên trồng giống cây này sau đó là Hy Lạp và La Mã ngày nay được trồng nhiều nơi trên thế giới, ban đầu dưa lưới nhỏ và ít ngọt, sau thời gian nó không ngừng phát triển cho đến nay trở thành trái to và ngọt.
Theo các tác giả Grebenscikov (1953), Jeffrey (1980), Zohary (1983) và Kirkbride (1993), loài dưa lưới chia thanh hai loài phụ: ssp. Melo và ssp. Theo các tác giả trên, cả hai loài phụ bao gồm các dạng hoang dại, những dạng hoang dại của ssp. Melo tương tự với C.
callosus (Stepansky et al., 1999)[12] Năm 1753 Linné đặt tên là chi Cucumis và mô tả năm loài dưa trồng. Những loài đó sau này được thống nhất thành một loài duy nhất là Cucumis melo L. bởi Naudin (1859), người đã phát triển một hệ thống phân loại dựa trên một bộ sưu tập sống 2000 mẫu vật. Naudin chia dưa thành 10 giống, và đó là cơ sở của tất cả các nghiên cứu sau này.
Pangalo (1929) đã trực tiếp nghiên cứu 3000 mẫu vật tại Viện Vavilov, và đề xuất một hệ thống phân loại kỹ hơn dựa trên ý tưởng của dãy tương đồng (Stepansky et al. [12] Phân loại dưa theo Pangalo (1929), Grebenscikov (1953), Naudin (1959), Hammer et al (1986), Munger and Robinson (1991) dưa lưới được chia làm 7 giống: Luan van 6 1. Agrestis : thân mảnh, lá cây đơn tính cùng gốc, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, phát triển như cỏ dại ở Châu Phi và các nước Châu Á. Quả rất nhỏ(<5cm) và không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ.
Cantalupensis : quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín. Gồm có dạng Reliculatus. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhụy.
Inodorus : dưa lê mùa đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm. Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. Flexuosus : quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột. Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc.
conomon : các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn. Chito và Dudaim : được mô tả bởi Naudin nhưng được nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson.
Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy. Momordica : là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu có nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng. Theo phân loại Wikipedia, bách khoa toàn thư: Dưa thuộc chi Cucusmis là trái cây ăn được. Nhưng chỉ một số ít dưa ăn được thuộc loài Cucusmis melo L.
metuliferus (Dưa sần): là thực phẩm truyền thống của Châu Phi, có gai. Hiện loài này cũng được trồng ở California, Chile, Australia và New Zealand. melo: Bao gồm các dạng sau: 2. melo cantalupensis: có vỏ xù xì, sần, không có vân lưới.
Gồm có: - Dưa đỏ Châu Âu: Vỏ có gân nhẹ, màu xanh nhạt, được du nhập từ thế kỷ 18 vào Cantalupo, Sabina, Italy bởi người làm vườn của Đức giáo hoàng. - Dưa ba Tư: Là dạng dưa lớn với vỏ màu xanh đậm, có vân lưới. melo inodorus gồm các dạng: - Dưa hàn quốc: Là dưa màu vàng với những đường trắng chạy ngang quả, thịt quả màu trắng. Quả có thể giòn, hơi ngọt hoặc ngọt hơn khi để chín kĩ.
- Dưa Canary: Là dạng dưa quả lớn, màu vàng sáng với thịt quả màu xanh nhạt tới trắng. - Dưa Casaba: Vỏ quả nhẵn, có rãnh, màu vàng sáng. Dưa này ít hương vị hơn các loại khác nhưng để chín lâu hơn. - Dưa Hami : Có nguồn gốc từ Hami, Tân Cương, Trung Quốc.
Thịt quả giòn và ngọt. - Dưa Honeydew: Thịt quả ngọt, màu xanh, đươc trồng ở Lan Châu, Trung quốc. Có 1 loại khác với vỏ vàng, thịt quả trắng và vị giống quả lê. - Dưa Kolkhoznitsa: Với vỏ quả vàng, nhẵn, thịt quả trắng, đặc ruột.
- Dưa Piel de Sapo (toad skin) hoặc dưa Santa Claus: Có vỏ quả xanh đốm, thịt quả trắng, ngọt. - Dưa đường: Quả tròn, nhẵn, màu trắng. - Dưa Tiger: Là loại dưa của Thổ Nhĩ Kỳ, có sọc đen, vàng và cam, có thịt quả mềm.