CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nuôi cá biển trên trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới Theo báo cáo của FAO (2014), tổng sản lượng thủy sản từ khai thác và nuôi trên thế giới năm 2012 vào khoảng 158 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đóng góp 66,6 triệu tấn chiếm 42,2% tổng sản lượng. Tính từ 2000 đến 2012, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm nuôi trồng thủy sản là 8,6%. T rong đó, nuôi thủy sản mặn, lợ tăng mạnh và được xem như một ngành công nghiệp thu lợi nhuận cao (FAO, 2014). Nuôi thủy sản biển đóng góp tới 30% sản lượng và 29,2% giá trị thủy sản nuôi; nuôi thủy sản nước lợ chiếm 7,9% sản lượng và 12,8% giá trị chủ yếu là nhóm giáp xác và cá biển có giá trị kinh tế cao (FAO, 2012).
Sản lượng cá nước mặn và nước lợ nuôi năm 2010 là 4.000 tấn, chiếm 19,3% tổng sản lượng động vật thủy sản nuôi nước lợ, mặn, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 1990 đến 2010 là 9,3%. Đối tượng nuôi chính là cá hồi Đại Tây Dương, cá tráp, cá chẽm châu Âu, cá cam, cá đù, cá măng, cá mú, cá chẽm, cá hồng, cá đối, cá bơn, cá giò, cá chim, cá tuyết, cá ngừ. Trong đó chỉ tính riêng nhóm cá hồi đã chiếm 1. Các nước có sản lượng nuôi lớn như: Trung Quốc, Nauy, Chi Lê, Nhật Bản, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Philippine, Indonesia, Việt Nam, Australia… (Hambrey, 2000 ; Hjelt, 2000; Gooley và CTV, 2000; Shields, 2001; FAO - GLOBEFISH, 2007; FAO, 2012).
Ở Na Uy, nuôi trồng thủy sản bắt đầu phát triển vào những năm 1970, đối tượng nuôi chính là cá hồi Đại Tây Dương ( Salmo salar), chiếm 80% tổng sản lượng, các loài cá khác như cá tuyết ( Gadus morhua), cá bơn (Hippoglossus hippoglossus và Scophthalmus maximus) và cá sói (Anarchichas minor) cũng chiếm sản lượng đáng kể. Để thuận lợi cho việc quản lý, mỗi trang trại nuôi trồng thủy sản được cấp một giấy phép hoạt động, sau mỗi chu kỳ sản suất các trại nuôi cá trên biển phải đổi địa điểm nuôi nhằm hạn chế tác động xấu lên môi trường và phòng ngừa dịch bệnh nên mỗi trại nuôi trên biển đều có ít nhất là 3 địa điểm nuôi. Năm 2000, cả nước có khoảng 832 giấy phép cho nuôi thương phẩm trên biển và 242 giấy phép sản xuất giống, trung bình một trang trại sản xuất được khoảng 2,5 triệu con giống cá hồi mỗi năm. Nghề nuôi cá hồi ở Na Uy do chủ động về con giống, công nghệ nuôi hiện đại, nên năng suất nuôi rất cao, sản lượng của một địa điểm nuôi từ 800 – 4.000 tấn cho một chu kỳ sản xuất 14 – 30 tháng, do vậy các lồng nuôi thường có thể tích từ 3.000 m3, chiếm diện tích mặt nước từ 400 – 1.
Cá chẽm châu Âu (Dicentrarchus labrax) và cá tráp (Sparus aurata) là đối tượng nuôi chính ở các nước vùng biển Địa Trung Hải như: Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Pháp, … Năm 1999, khu vực này có 94 trại giống sản xuất ra 447 triệu con, trong đó cá tráp 233 triệu con và cá chẽm châu Âu 214 triệu con. Cá được nuôi trong lồng trên biển, cho ăn thức ăn công nghiệp, sau một năm đạt cỡ thương phẩm 400 – 500 g, sản lượng hai loài cá này năm 2006 khoảng 175. Ở Mỹ, cá biển được sản xuất giống theo hình thức thâm canh, bán thâm canh và quảng canh. Hình thức thâm canh sử dụng để ương các loài cá đối, cá măng biển, cá bơn,… mật độ ương 20 – 40 con/L trong các bể composite thể tích từ 5 – 10 m3 tuần hoàn n ước, thức ăn sống là tảo, luân trùng và Artemia được làm giàu n -3 HUFA trước khi cho ăn, ánh sáng và các thông số chất lượng nước được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ sống từ 25 – 30%.
Hình thức bán thâm canh được sử dụng ương cá măng biển, cá hồng, cá đù đỏ, cá mú. Với hình thức nuôi quảng canh, thức ăn t ự nhiên được gây trong ao, ấu trùng sau khi nở được thả ra ao ương, sau 74 ngày ương tỷ lệ sống của cá từ 3,8 – 8,4%, hình thức này thường áp dụng với cá đủ đỏ ( Lee & Ostrowski, 2001). Nuôi cá biển ở châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục tăng nhanh, sản lượng tăng trung bình 10%/năm, giá trị 4%/năm trong 10 năm trở lại đây, trong đó các nước có sản lượng nuôi lớn là Trung Quốc, Nhật Bản (Rimmer, 2008). Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đứng đầu thế giới, sản lượng cá biển chiếm 4% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi (Young, 2002).
Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 và phát triển mạnh vào những năm 1980. Tính đến năm 2000, Trung Quốc đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số l ượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi th ương phẩm. Số l ượng sản xuất hàng năm khoảng 10 tỷ con giống cá biển các loại và tập trung chủ yếu vào các loài có giá trị kinh tế nh ư cá mú (Epinephelus spp), cá hồng (Lutjanus spp), cá sủ vàng (Pseudosciaena crocea), cá vược Nhật (Lateolabrax japonicus), cá bơn Nhật (Paralichthys olivaceus) cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus), cá tráp đỏ ( Pagrus major), cá chẽm ( Lates calcarifer), cá đối (Mugil cephalus), cá măng biển ( Chanos chanos),… , trong đó riêng loài cá sủ vàng chiếm khoảng 1,3 tỷ con (Hong & Zhang, 2003). Nhật Bản là một trong những quốc gia có nghề nuôi cá biển lâu đời ở châu Á.
Các đối t ượng nuôi chính là cá cam (Seriola quinqueradiata), cá tráp đỏ (Pagrus major). Trong đó cá cam là đối t ượng nuôi truyền thống, trước đây nguồn giống chủ yếu lấy từ tự nhiên và cho ăn bằng cá tạp, nay đ ược thay thế dần bằng nguồn giống nhân tạo và cho ăn bằng thức ăn công nghiệp , gần đây đối tượng có giá trị kinh tế cao là cá ngừ vây xanh đang được quan tâm nghiên cứu phát triển nuôi với quy mô lớn (Takashima & Arimoto, 2000; Fushimi, 2001). Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Đài Loan xuất hiện cách đây trên 300 năm, tuy nhiên nền công nghiệp sản xuất giống cá biển chỉ thực s ự phát triển trong khoảng 40 năm gần đây , đặc biệt là vào những năm 1990, nguồn giống cá biển sản xuất nhân tạo không những cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong n ước mà còn xuất khẩu sang các nước khác. Tính đến năm 1998, có khoảng 64 loài cá biển đ ược nuôi ở Đài Loan, trong đó 90% số loài đã đ ược sản xuất giống nhân tạo thành công với số lượng giống sản xuất hàng năm trên 600 triệu con.
Trong đó, đối tượng chính là cá mú, cá hồng, cá đù đỏ, cá tráp, cá chẽm, cá giò và cá măng biển (Liao & CTV, 2001; Yeh & CTV, 2004).2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam Ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản đóng v ài trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Năm 2012, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 3.500 tấn, chủ yếu là cá nước ngọt và tôm n ước lợ, trong đó sản lượng cá biển chỉ chiếm một phần rất nhỏ (51. Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào; cùng với thành công của nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá biển có giá trị kinh tế. Với tiềm năng như vậy, Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2015 đạt sản lượng 160.000 tấn cá nước lợ, mặn, nhu cầu con giống cá biển các loại năm 2015 là 115 triệu con, đến 2020 cần 150 triệu con (nguồn: Tổng cục Thủy sản).
Nghề nuôi cá biển nước ta bắt đầu vào những năm 1990 , đối t ượng nuôi chính là cá mú, cá chẽm, cá giò , cá hồng … và thường đ ược nuôi với quy mô nhỏ bằng lồng và ao đất ở các tỉnh Quảng Ninh , Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hoà,…. Hiện nay, bên cạnh lồng nuôi quy mô nhỏ đã có một số doanh nghiệp trong và ngoài n ước đầu tư nuôi với quy mô công nghiệp bằng lồng nổi cỡ lớn có thể tích hàng ngàn mét khối (kiểu lồng Na Uy), có thể chịu đ ược sóng gió cấp 9, cấp 10. Với công nghệ nuôi này đã mở ra hướng mới cho việc phát triển nuôi cá lồng trên biển với quy mô lớn ở n ước ta (Tuan & CTV. 2000, Bộ Thuỷ sản, 2006).
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu thành công về sản xuất giống và nuôi th ương phẩm một số loài cá biển nh ư: cá chẽm (Nguyễn Tuần & CTV, 2001; Nguyễn Duy Hoan & Võ Ngọc Thám, 2000), cá đù đỏ (Đỗ Văn Ninh & CTV, 2001), cá giò, cá mú (Đỗ Văn Khương & CTV, 2001; Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên, 1998), cá chẽm mõm nhọn (Nguyễn Trọng Nho, 2003; Nguyễn Trọng Nho & Tạ Khắc Th ường, 2006), cá chim vây vàng (Ngô Vĩnh Hạnh, 2007; Lại V ăn Hùng & CTV, 2011),… cũng đã phần nào giúp chúng ta cơ bản chủ động sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển. Hiện nay các trại sản xuất giống cá biển tập trung chủ yếu ở Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, và một số ít ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Ng hệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận,…. Theo ước tính sản lượng giống cá biển sản xuất ra hàng năm khoảng 60 – 70 triệu con, trong đó chủ yếu là cá chẽm. Tuy nhiên, số lượng cá giống này chỉ có thể đáp ứng 60 – 70% nhu cầu nuôi, còn lại phải nhập từ các nước Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia.
Khánh Hòa là tỉnh sản xuất giống và nuôi cá biển hàng đầu cả nước, theo thông kê của Chi cục NTTS Khánh Hòa, năm 2012 toàn tỉnh có 3.695 lồng và 294 ha nuôi cá biển đạt sản lượng đạt 5.922 tấn, trong đó cá chẽm, cá giò và cá chim chiếm sản lượng chủ yếu. Về sản xuất giống, năm 2012 sản xuất được 24,0 triệu con, năm 2013 là 23,8 triệu con, trong đó cá chẽm chiếm khoảng 22 triệu, cá giò 0,4 triệu con, cá chim 1,1 triệu, còn lại là một số loài cá khác như cá mú, cá hồng, cá bè,…, đến năm 2014 chỉ sản xuất được 11,0 triệu con, nguyên nhân là do nhu cầu nuôi cá chẽm giảm nên nhiều trại chuyển sang sản xuất giống cá giò dẫn đến sản lượng giống giảm. Với số lượng giống sản xuất như vậy có thể đáp ứng nhu nu ôi trong tỉnh và cung cấp giống cho một số tỉnh lân cận (nguồn: Chi cục NTTS Khánh Hòa năm 2012, 2013, 2014).