Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số giải pháp kỹ thuật lên chất lượng trứng ấu trùng và hiệu quả ương giống cá chim vây vàng trachinotus blochii lacepède 1801 tại tỉnh khánh hòa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng kỹ thuật lên chất lượng trứng, ấu trùng và hiệu quả ương giống cá chim vây vàng tại Khánh Hòa.

Trường đại học

Trường Đại học Nha Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

200
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam

1.2. Đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng

1.2.1. Phân loại và phân bố

1.2.2. Dinh dưỡng và sinh trưởng

1.2.3. Đặc điểm sinh sản

1.2.4. Sự thành thục và đẻ trứng ở cá xương

1.2.5. Sinh học sinh sản và sự phát triển tuyến sinh dục ở cá xương

1.2.6. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên hoạt động sinh sản ở cá

1.2.7. Cơ chế nội tiết kiểm soát quá trình chín và rụng trứng ở cá

1.2.8. Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cá biển bố mẹ và cá con

1.2.8.1. Dinh dưỡng cá biển bố mẹ
1.2.8.2. Dinh dưỡng ấu trùng cá biển

1.2.9. Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng và ấu trùng cá

1.2.9.1. Một số loại hormone thường sử dụng trong sinh sản cá
1.2.9.2. Ảnh hưởng của các loại, liều lượng hormone lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng và ấu trùng cá

1.2.10. Ảnh hưởng của mật độ ương, thức ăn, chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con

1.2.10.1. Thức ăn và chế độ cho ăn
1.2.10.2. Chế độ chiếu sáng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nguồn cá bố mẹ

2.3.2. Phương pháp thực hiện nội dung nghiên cứu 1 và 2

2.3.3. Phương pháp thực hiện nội dung nghiên cứu 3

2.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu

2.4.1. Phương pháp xác định các thông số môi trường

2.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh sản, chất lượng trứng, ấu trùng

2.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, phân đàn, tỷ lệ sống, dị hình và hệ số FCR

2.4.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh hóa

2.4.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của loại thức ăn tươi, khẩu phần ăn và hàm lượng vitamin E bổ sung cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản và chất lượng trứng, ấu trùng

3.1.1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn tươi khác nhau cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản và chất lượng trứng, ấu trùng

3.1.2. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản và chất lượng trứng, ấu trùng

3.1.3. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin E bổ sung cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản và chất lượng trứng, ấu trùng

3.2. Ảnh hưởng của loại hormone kích thích sinh sản lên khả năng sinh sản và chất lượng trứng, ấu trùng

3.2.1. Ảnh hưởng của loại hormone kích thích sinh sản lên tỷ lệ thành thục, thời gian tái phát dục và sức sinh sản của cá bố mẹ

3.2.2. Ảnh hưởng của loại hormone kích thích sinh sản lên các chỉ tiêu chất lượng trứng của cá chim vây vàng

3.2.3. Ảnh hưởng của loại hormone kích thích sinh sản lên các chỉ tiêu chất lượng ấu trùng cá chim vây vàng

3.3. Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả ương giống cá chim vây vàng từ 1 ngày tuổi lên 50 ngày tuổi

3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá con

3.3.2. Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên sinh trưởng, tỷ lệ sống, dị hình và khả năng chịu shock của ấu trùng cá chim vây vàng

3.3.3. Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá con

3.3.4. Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá con và quan sát hoạt động ăn mồi của cá ở các thời điểm khác nhau trong ngày

3.3.5. Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng và số lần cho ăn trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá giống

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

DANH MỤC BÀI BÁO, BÁO CÁO HỘI NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Hình ảnh một số hoạt động nghiên cứu

Phụ lục 2. Thành phần dinh dưỡng của chất làm giàu DHA Protein Selco

Phụ lục 3. Các thông số môi trường khu vực đặt lồng nuôi vỗ cá bố mẹ tại Vũng Ngán, Nha Trang

Phụ lục 4. Hàm lượng lipid và acid béo trong trứng cá chim vây vàng

Phụ lục 5. Số liệu và kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng ấu trùng

Phụ lục 6. Số liệu và kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của khẩu phần ăn cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng ấu trùng

Phụ lục 7. Số liệu và kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của hàm lượng vitamin E bổ sung trong thức ăn cho cá bố mẹ lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng ấu trùng

Phụ lục 8. Số liệu và kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của loại hormone kích thích cá bố mẹ lên khả năng sinh sản, chất lượng trứng ấu trùng

Phụ lục 9. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng mật độ ương giai đoạn ấu trùng

Phụ lục 10. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng mật độ ương giai đoạn cá giống

Phụ lục 11. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên sinh trưởng, phân đàn, tỷ lệ sống, dị hình và khả năng chịu sốc của ấu trùng cá chim vây vàng

Phụ lục 12. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ tập chuyển đổi thức ăn lên sinh trưởng ấu trùng cá chim vây vàng

Phụ lục 13. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn lên cá giống

Phụ lục 14. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng giai đoạn 1 - 12 ngày tuổi

Phụ lục 15. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng giai đoạn 13 - 25 ngày tuổi

Phụ lục 16. Kết quả phân tích số liệu của thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng và số lần cho ăn trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá giống

Tóm tắt

I. Chất lượng trứng và kỹ thuật ương giống cá chim vây vàng

Nghiên cứu tập trung vào chất lượng trứngkỹ thuật ương giống của cá chim vây vàng tại Khánh Hòa. Các yếu tố như loại thức ăn, khẩu phần ăn, và hàm lượng vitamin E bổ sung cho cá bố mẹ được đánh giá để cải thiện chất lượng trứngấu trùng. Kết quả cho thấy, thức ăn gồm 70% cá tươi, 15% tôm, 15% mực, và bổ sung 750 mg vitamin E/kg thức ăn giúp nâng cao sức sinh sản và chất lượng trứng. Khẩu phần ăn 9% khối lượng thân được xác định là tối ưu. Các giải pháp kỹ thuật này không chỉ cải thiện chất lượng giống cá mà còn tăng hiệu quả trong quy trình ương giống.

1.1. Ảnh hưởng của thức ăn lên chất lượng trứng

Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn tươi khác nhau lên chất lượng trứngấu trùng cá chim vây vàng. Kết quả cho thấy, thức ăn giàu dinh dưỡng như cá tươi, tôm, và mực giúp tăng tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở của trứng, và giảm tỷ lệ dị hình ở ấu trùng. Điều này khẳng định tầm quan trọng của kỹ thuật nuôi cá bố mẹ trong việc nâng cao chất lượng giống cá.

1.2. Bổ sung vitamin E trong thức ăn

Nghiên cứu cũng xác định ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin E trong thức ăn lên chất lượng trứngấu trùng. Hàm lượng 750 mg vitamin E/kg thức ăn được chứng minh là tối ưu, giúp cải thiện tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở của trứng, và giảm tỷ lệ dị hình ở ấu trùng. Đây là một giải pháp hiệu quả trong kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.

II. Kỹ thuật kích thích sinh sản và hiệu quả ương giống

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các loại hormone kích thích sinh sản lên hiệu quả ương giống cá chim vây vàng. Các loại hormone như LRHa, HCG, và kết hợp HCG + LRHa được sử dụng để kích thích sinh sản. Kết quả cho thấy, sử dụng HCG 500 IU + LRHa 40 µg/kg cá giúp cải thiện đáng kể sức sinh sản, chất lượng trứng, và ấu trùng, đồng thời rút ngắn thời gian tái phát dục của cá bố mẹ. Đây là một bước tiến quan trọng trong kỹ thuật nuôi cá thương phẩm.

2.1. Ảnh hưởng của hormone lên sức sinh sản

Các thí nghiệm đã chứng minh rằng, việc sử dụng hormone kích thích sinh sản như HCG và LRHa giúp tăng tỷ lệ thành thục, sức sinh sản, và chất lượng trứng của cá chim vây vàng. Điều này đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả ương giống và giảm thiểu tỷ lệ dị hình ở cá con.

2.2. Tối ưu hóa quy trình ương giống

Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp kỹ thuật để tối ưu hóa quy trình ương giống, bao gồm mật độ ương 45 con/L, sử dụng thức ăn sống làm giàu DHA Protein Selco nồng độ 250 ppm, và chế độ chiếu sáng 18 giờ/ngày. Những giải pháp này giúp cải thiện tỷ lệ sống, sinh trưởng, và chất lượng giống cá.

III. Môi trường sống và thức ăn cho cá chim vây vàng

Nghiên cứu cũng tập trung vào môi trường sống của cáthức ăn cho cá trong quá trình ương giống. Các yếu tố như độ mặn, nhiệt độ, và chế độ chiếu sáng được đánh giá để tối ưu hóa điều kiện nuôi. Kết quả cho thấy, chế độ chiếu sáng 12 giờ/ngày và cho ăn 4 lần/ngày với khẩu phần 9% khối lượng thân là phù hợp nhất để cải thiện hiệu quả ương giốngchất lượng giống cá.

3.1. Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Chế độ chiếu sáng 18 giờ/ngày được xác định là tối ưu cho giai đoạn ương ấu trùng, giúp cải thiện tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá con. Đây là một yếu tố quan trọng trong kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.

3.2. Thức ăn và chế độ cho ăn

Nghiên cứu cũng đánh giá ảnh hưởng của thức ăn cho cá lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con. Sử dụng thức ăn sống làm giàu DHA Protein Selco nồng độ 250 ppm giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống và khả năng chống chịu sốc của cá con.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số giải pháp kỹ thuật lên chất lượng trứng ấu trùng và hiệu quả ương giống cá chim vây vàng trachinotus blochii lacepède 1801 tại tỉnh khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nuôi cá biển trên trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới Theo báo cáo của FAO (2014), tổng sản lượng thủy sản từ khai thác và nuôi trên thế giới năm 2012 vào khoảng 158 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đóng góp 66,6 triệu tấn chiếm 42,2% tổng sản lượng. Tính từ 2000 đến 2012, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm nuôi trồng thủy sản là 8,6%. T rong đó, nuôi thủy sản mặn, lợ tăng mạnh và được xem như một ngành công nghiệp thu lợi nhuận cao (FAO, 2014). Nuôi thủy sản biển đóng góp tới 30% sản lượng và 29,2% giá trị thủy sản nuôi; nuôi thủy sản nước lợ chiếm 7,9% sản lượng và 12,8% giá trị chủ yếu là nhóm giáp xác và cá biển có giá trị kinh tế cao (FAO, 2012).

Sản lượng cá nước mặn và nước lợ nuôi năm 2010 là 4.000 tấn, chiếm 19,3% tổng sản lượng động vật thủy sản nuôi nước lợ, mặn, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 1990 đến 2010 là 9,3%. Đối tượng nuôi chính là cá hồi Đại Tây Dương, cá tráp, cá chẽm châu Âu, cá cam, cá đù, cá măng, cá mú, cá chẽm, cá hồng, cá đối, cá bơn, cá giò, cá chim, cá tuyết, cá ngừ. Trong đó chỉ tính riêng nhóm cá hồi đã chiếm 1. Các nước có sản lượng nuôi lớn như: Trung Quốc, Nauy, Chi Lê, Nhật Bản, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Philippine, Indonesia, Việt Nam, Australia… (Hambrey, 2000 ; Hjelt, 2000; Gooley và CTV, 2000; Shields, 2001; FAO - GLOBEFISH, 2007; FAO, 2012).

Ở Na Uy, nuôi trồng thủy sản bắt đầu phát triển vào những năm 1970, đối tượng nuôi chính là cá hồi Đại Tây Dương ( Salmo salar), chiếm 80% tổng sản lượng, các loài cá khác như cá tuyết ( Gadus morhua), cá bơn (Hippoglossus hippoglossus và Scophthalmus maximus) và cá sói (Anarchichas minor) cũng chiếm sản lượng đáng kể. Để thuận lợi cho việc quản lý, mỗi trang trại nuôi trồng thủy sản được cấp một giấy phép hoạt động, sau mỗi chu kỳ sản suất các trại nuôi cá trên biển phải đổi địa điểm nuôi nhằm hạn chế tác động xấu lên môi trường và phòng ngừa dịch bệnh nên mỗi trại nuôi trên biển đều có ít nhất là 3 địa điểm nuôi. Năm 2000, cả nước có khoảng 832 giấy phép cho nuôi thương phẩm trên biển và 242 giấy phép sản xuất giống, trung bình một trang trại sản xuất được khoảng 2,5 triệu con giống cá hồi mỗi năm. Nghề nuôi cá hồi ở Na Uy do chủ động về con giống, công nghệ nuôi hiện đại, nên năng suất nuôi rất cao, sản lượng của một địa điểm nuôi từ 800 – 4.000 tấn cho một chu kỳ sản xuất 14 – 30 tháng, do vậy các lồng nuôi thường có thể tích từ 3.000 m3, chiếm diện tích mặt nước từ 400 – 1.

Cá chẽm châu Âu (Dicentrarchus labrax) và cá tráp (Sparus aurata) là đối tượng nuôi chính ở các nước vùng biển Địa Trung Hải như: Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Pháp, … Năm 1999, khu vực này có 94 trại giống sản xuất ra 447 triệu con, trong đó cá tráp 233 triệu con và cá chẽm châu Âu 214 triệu con. Cá được nuôi trong lồng trên biển, cho ăn thức ăn công nghiệp, sau một năm đạt cỡ thương phẩm 400 – 500 g, sản lượng hai loài cá này năm 2006 khoảng 175. Ở Mỹ, cá biển được sản xuất giống theo hình thức thâm canh, bán thâm canh và quảng canh. Hình thức thâm canh sử dụng để ương các loài cá đối, cá măng biển, cá bơn,… mật độ ương 20 – 40 con/L trong các bể composite thể tích từ 5 – 10 m3 tuần hoàn n ước, thức ăn sống là tảo, luân trùng và Artemia được làm giàu n -3 HUFA trước khi cho ăn, ánh sáng và các thông số chất lượng nước được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ sống từ 25 – 30%.

Hình thức bán thâm canh được sử dụng ương cá măng biển, cá hồng, cá đù đỏ, cá mú. Với hình thức nuôi quảng canh, thức ăn t ự nhiên được gây trong ao, ấu trùng sau khi nở được thả ra ao ương, sau 74 ngày ương tỷ lệ sống của cá từ 3,8 – 8,4%, hình thức này thường áp dụng với cá đủ đỏ ( Lee & Ostrowski, 2001). Nuôi cá biển ở châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục tăng nhanh, sản lượng tăng trung bình 10%/năm, giá trị 4%/năm trong 10 năm trở lại đây, trong đó các nước có sản lượng nuôi lớn là Trung Quốc, Nhật Bản (Rimmer, 2008). Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đứng đầu thế giới, sản lượng cá biển chiếm 4% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi (Young, 2002).

Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 và phát triển mạnh vào những năm 1980. Tính đến năm 2000, Trung Quốc đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số l ượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi th ương phẩm. Số l ượng sản xuất hàng năm khoảng 10 tỷ con giống cá biển các loại và tập trung chủ yếu vào các loài có giá trị kinh tế nh ư cá mú (Epinephelus spp), cá hồng (Lutjanus spp), cá sủ vàng (Pseudosciaena crocea), cá vược Nhật (Lateolabrax japonicus), cá bơn Nhật (Paralichthys olivaceus) cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus), cá tráp đỏ ( Pagrus major), cá chẽm ( Lates calcarifer), cá đối (Mugil cephalus), cá măng biển ( Chanos chanos),… , trong đó riêng loài cá sủ vàng chiếm khoảng 1,3 tỷ con (Hong & Zhang, 2003). Nhật Bản là một trong những quốc gia có nghề nuôi cá biển lâu đời ở châu Á.

Các đối t ượng nuôi chính là cá cam (Seriola quinqueradiata), cá tráp đỏ (Pagrus major). Trong đó cá cam là đối t ượng nuôi truyền thống, trước đây nguồn giống chủ yếu lấy từ tự nhiên và cho ăn bằng cá tạp, nay đ ược thay thế dần bằng nguồn giống nhân tạo và cho ăn bằng thức ăn công nghiệp , gần đây đối tượng có giá trị kinh tế cao là cá ngừ vây xanh đang được quan tâm nghiên cứu phát triển nuôi với quy mô lớn (Takashima & Arimoto, 2000; Fushimi, 2001). Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Đài Loan xuất hiện cách đây trên 300 năm, tuy nhiên nền công nghiệp sản xuất giống cá biển chỉ thực s ự phát triển trong khoảng 40 năm gần đây , đặc biệt là vào những năm 1990, nguồn giống cá biển sản xuất nhân tạo không những cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong n ước mà còn xuất khẩu sang các nước khác. Tính đến năm 1998, có khoảng 64 loài cá biển đ ược nuôi ở Đài Loan, trong đó 90% số loài đã đ ược sản xuất giống nhân tạo thành công với số lượng giống sản xuất hàng năm trên 600 triệu con.

Trong đó, đối tượng chính là cá mú, cá hồng, cá đù đỏ, cá tráp, cá chẽm, cá giò và cá măng biển (Liao & CTV, 2001; Yeh & CTV, 2004).2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam Ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản đóng v ài trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Năm 2012, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 3.500 tấn, chủ yếu là cá nước ngọt và tôm n ước lợ, trong đó sản lượng cá biển chỉ chiếm một phần rất nhỏ (51. Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào; cùng với thành công của nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá biển có giá trị kinh tế. Với tiềm năng như vậy, Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2015 đạt sản lượng 160.000 tấn cá nước lợ, mặn, nhu cầu con giống cá biển các loại năm 2015 là 115 triệu con, đến 2020 cần 150 triệu con (nguồn: Tổng cục Thủy sản).

Nghề nuôi cá biển nước ta bắt đầu vào những năm 1990 , đối t ượng nuôi chính là cá mú, cá chẽm, cá giò , cá hồng … và thường đ ược nuôi với quy mô nhỏ bằng lồng và ao đất ở các tỉnh Quảng Ninh , Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hoà,…. Hiện nay, bên cạnh lồng nuôi quy mô nhỏ đã có một số doanh nghiệp trong và ngoài n ước đầu tư nuôi với quy mô công nghiệp bằng lồng nổi cỡ lớn có thể tích hàng ngàn mét khối (kiểu lồng Na Uy), có thể chịu đ ược sóng gió cấp 9, cấp 10. Với công nghệ nuôi này đã mở ra hướng mới cho việc phát triển nuôi cá lồng trên biển với quy mô lớn ở n ước ta (Tuan & CTV. 2000, Bộ Thuỷ sản, 2006).

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu thành công về sản xuất giống và nuôi th ương phẩm một số loài cá biển nh ư: cá chẽm (Nguyễn Tuần & CTV, 2001; Nguyễn Duy Hoan & Võ Ngọc Thám, 2000), cá đù đỏ (Đỗ Văn Ninh & CTV, 2001), cá giò, cá mú (Đỗ Văn Khương & CTV, 2001; Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên, 1998), cá chẽm mõm nhọn (Nguyễn Trọng Nho, 2003; Nguyễn Trọng Nho & Tạ Khắc Th ường, 2006), cá chim vây vàng (Ngô Vĩnh Hạnh, 2007; Lại V ăn Hùng & CTV, 2011),… cũng đã phần nào giúp chúng ta cơ bản chủ động sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển. Hiện nay các trại sản xuất giống cá biển tập trung chủ yếu ở Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, và một số ít ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Ng hệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận,…. Theo ước tính sản lượng giống cá biển sản xuất ra hàng năm khoảng 60 – 70 triệu con, trong đó chủ yếu là cá chẽm. Tuy nhiên, số lượng cá giống này chỉ có thể đáp ứng 60 – 70% nhu cầu nuôi, còn lại phải nhập từ các nước Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia.

Khánh Hòa là tỉnh sản xuất giống và nuôi cá biển hàng đầu cả nước, theo thông kê của Chi cục NTTS Khánh Hòa, năm 2012 toàn tỉnh có 3.695 lồng và 294 ha nuôi cá biển đạt sản lượng đạt 5.922 tấn, trong đó cá chẽm, cá giò và cá chim chiếm sản lượng chủ yếu. Về sản xuất giống, năm 2012 sản xuất được 24,0 triệu con, năm 2013 là 23,8 triệu con, trong đó cá chẽm chiếm khoảng 22 triệu, cá giò 0,4 triệu con, cá chim 1,1 triệu, còn lại là một số loài cá khác như cá mú, cá hồng, cá bè,…, đến năm 2014 chỉ sản xuất được 11,0 triệu con, nguyên nhân là do nhu cầu nuôi cá chẽm giảm nên nhiều trại chuyển sang sản xuất giống cá giò dẫn đến sản lượng giống giảm. Với số lượng giống sản xuất như vậy có thể đáp ứng nhu nu ôi trong tỉnh và cung cấp giống cho một số tỉnh lân cận (nguồn: Chi cục NTTS Khánh Hòa năm 2012, 2013, 2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng kỹ thuật lên chất lượng trứng và hiệu quả ương giống cá chim vây vàng tại Khánh Hòa là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng trứng và quá trình ương giống cá chim vây vàng, một loài cá có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các phương pháp tối ưu hóa quy trình sản xuất giống mà còn đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế trong ngành nuôi trồng thủy sản tại Khánh Hòa. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người làm trong lĩnh vực thủy sản.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến chất lượng và môi trường, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng nước và ảnh hưởng của nó đến môi trường sống. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước trong tự nhiên. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cung cấp thông tin về ô nhiễm và tác động đến sức khỏe, một chủ đề liên quan đến chất lượng môi trường và sản phẩm.