Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây xạ đen 1.1 Nguồn gốc Phân bố nhiều ở Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như: Việt Nam, Myanmar, Thái Lan. Loại cây này thường moc ở độ cao từ 1. Con ở nước ta, cây thuốc xạ đen phân bé chủ yếu tại các tỉnh Hòa Binh, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế và một số Vườn quốc gia lớn như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Ba Vì ( Mai Văn Phương (2014).2 Phân loại Theo wikipedia cây xạ đen được phân loại thực vật như sau Giới: Plantae Ngành: Rosids Bộ: Celastrales Họ: Celastraceae Chi: Celastrus Loài: C.3 Đặc điểm thực vật hoc Xạ đen thuộc loại cây dây leo thân gỗ, nhánh cây buông ra leo bám dài, mọc thành búi, dé trồng. Thân cây dang dây dài 3 - 10 m.
Cành tròn, lúc non có màu xám nhạt, không có lông, sau chuyền sang màu nâu, có lông, về sau có màu xanh. Phién lá hình bầu dục xoay ngược, thường có bảy cặp gân phụ, bìa có răng thấp, mặt lá không có lông, lá không rụng theo mùa, cuống lá dài 5 - 7 mm. Chùm hoa ở ngọn hay ở nách lá, 3 dài 5 - 10 cm. Cuống hoa 2 — 4 mm.
Hoa mẫu 5 cánh, hoa trắng, hoa cái có bầu 3 ô. Quả nang hình trứng, dai cỡ 1 cm, nỗ thành 3 mảnh. Hạt có áo hạt màu hồng. Ra hoa tháng 3 — 5, ra quả thang 8 — 12 (Mai Văn Phuong, 2014).4 Điều kiện sinh thái Mọc tự nhiên ở nhiều tỉnh cả miền Bắc và miền Trung như Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Dinh, Ninh Binh, Hà Nội,Thừa Thiên, Gia Lai nhưng nhiều nhất là Hoà Bình.
Ở Hoà Bình gặp nhiều ở các huyện Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc,.nhiều nhất là dưới rừng thứ sinh vùng núi đá vôi.Thường mọc phân tán ở rừng có độ tàn che với các loài cây trai, nghiên, ô rô,., thân cành trườn dài và vươn cao lên tận tang trén cua tán rừng. Theo kinh nghiệm dân gian có 2 loại: Xa den thân có nhựa đen và xa vàng thân có nhựa vàng. Xạ đen làm thuốc tốt và mọc ở vùng cao hơn xạ vàng.Ở Tú Sơn — Kim Bôi một số hộ đã có kinh nghiệm trồng quanh vườn nha dé làm thuốc. Sau 3 - 4 năm cây cao 4 — 5 m đã có hoa qua.
Xa den gặp phổ biến ở độ cao 300 — 400 m so với mực nước biên, nơi có nhiệt độ bình quân năm 20 - 25°C, lượng mưa 1500 - 2000 mm. Ua đất có thành phan cơ giới trung bình, 4m mát, thoát nước tốt, ít chua. Ưa sáng nhưng chịu được bóng, tái sinh chồi mạnh, cần có trụ đỡ trườn dài, vươn cao. Gặp nơi thuận lợi thân và cành có khả năng đâm rễ phụ cắm.
Khí hậu ẩm mát, tốt nhất nơi có nhiệt độ trung bình 20°C, nhiều mây mù. Dat tốt, âm và thoát nước, tốt nhất có thành phan cơ giới trung bình, pH = 5,5 - 6,5. Thực bì rừng thứ sinh nghèo kiệt hoặc trang cây bụi có cây gỗ rải rác hay rừng mới phục hồi sau nương rẫy. Nơi trống trọc cần trồng cây phụ trợ để che bóng và làm trụ nâng cho xạ đen trườn dài và vươn cao vào đất (Lê Thế Trung, 1999).5 Giá trị cây xạ đen 1.1 Giá trị được liệu Theo như nghiên cứu (Lê Thế Trung, 1999) khi nhắc đến cây xạ đen, không thé không nhắc đến tác dụng tuyệt vời của nó với việc hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, flavonoid trong cây xạ đen có tác dụng làm chậm quá trình oxy hóa do các gốc tự do gây ra từ đó giúp bảo vệ cơ thê khỏi các tác nhân gây ung thư đồng thời ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch.
Quinon tìm thấy trong xa đen có khả năng làm cho tế bào ung thư dé hóa lỏng đề bài tiết ra khỏi cơ thể. Khi quinon được kết hợp với flavonoid sẽ giúp đảo thải, 4 loại bỏ các tế bào ung thư ra khỏi người bệnh nhanh và hiệu quả gấp nhiều lần. Các nhà khoa học hàng đầu thế giới còn chứng minh dược chất saponin triterpenoid trong xạ đen có thé ức chế sự phát triển của tế bào bệnh ung thư, tái tạo các cau trúc tế bao bị bệnh, đồng thời có khả năng ngăn ngừa quá trình phát triển và tốc độ di căn của các khối u ác tính. Cây xạ đen có tác dụng chữa những bệnh về gan.
Theo y học cô truyền, cây xạ đen co VỊ đẳng, thơm mát có tác dụng rất hiệu quả cho việc hỗ trợ điều trị những bệnh về gan, viêm gan, xơ gan, men gan cao, gan nhiễm mỡ. Do xạ đen là một loại thảo dược có công dụng làm mát gan cực kỳ hiệu quả và giúp cho cơ thé thanh nhiệt rất tốt. Cây xạ đen có thé loại bỏ đi những mụn xấu do tinh trạng cơ thé bị nóng bên trong phát ra. Với những trường hợp gan nhiễm mỡ sau khi sử dụng cây xạ đen thì tình trạng ức chế quá trình lipid giảm mạnh, điều này sẽ làm giảm đi tình trạng của bệnh một cách hiệu quả nhất.
Cây xạ đen điều trị huyết áp không 6n định rất hiệu quả bằng cách rất đơn giản là uống nước xạ đen thường xuyên. Tat nhiên là tốt nhất người bệnh cần qua kê đơn, thăm khám cua bác sĩ trước khi dùng cây xạ đen dé có hiệu quả về huyết áp ôn định. Cây xạ đen có tính hàn và vị hơi chát nên có thé điều trị rất tốt chứng mat ngủ ngủ và có thé giúp cải thiện được tình trạng mat ngu, tang tuần hoàn máu não cực kỳ hiệu quả. Ngoài ra cây xạ đen còn có tác dụng trong điều trị các chứng chóng mặt.2 Phương pháp nhân giống Hiện nay, cây xạ đen được nhân giống bằng 2 phương pháp: hữu tính và vô tính - Nhân giống hữu tính: Chuẩn bị chọn hạt xạ đen uy tín, nhặt bỏ những hạt lép, hạt mốc.
Ngâm hạt đã chọn dưới nước trong vòng 15 phút rồi để ráo. Chuẩn bị luống: đất luống phải xới tơi, nhặt hết cỏ, làm thành từng luống cáo khoảng 25 cm, rộng 80 - 100 cm. Cách gieo: trộn hạt xạ đen đã ngâm với cát, trấu, và đem trồng theo luống đã chuẩn bị sẵn. Khi gieo nên rải hạt đều tay, xong phủ tro trâu trộn với cát với tỷ lệ 60% tro trau : 40% cát lên bên trên sau đó tưới phun sương dé giữ âm .Hạt giống cây xạ den sé nha mam sau khoảng 5 - 7 ngày sau gieo, sau đó tách riêng mỗi cây ra dé bỏ vào bau làm sắn - Nhân giống vô tính bằng giâm hom, phương pháp giâm hom được tiến hành như sau.
Cat 1 đoạn từ 10 — 15 em (có 4 - 5 mắt) từ cây xạ đen trưởng thành bằng kéo cắt sắc. Những đoạn cat từ cây phải đảm bảo không được quá già hoặc quá non dé dam 5 bảo cho sự ra rễ và đâm chồi của cây, loại bỏ những lá ở mắt dưới dé không bị vùi xuống đất và dé gây mam bệnh cho hom giông,sau đó cắm vào bau sâu đến mắt lá thứ nhat có giá thể đã trộn sẵn.1 Các yêu tô ảnh hưởng đên quá trình giâm hom 1.1 Đặc tính loài Căn cứ vào tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm mà chia ra làm ba nhóm: Nhóm dễ ra rễ: Hom giâm ít cần tác động hỗ trợ của ngoại cảnh, kích thích sinh trưởng vẫn đạt tỷ lệ sống và ra rễ trên 90%. Nhóm ra rễ trung bình: Hom giâm cần tác động hỗ trợ cơ bản, đơn giản của ngoại cảnh và kích thích sinh trường có hạn từ 7 ngày đến 15 ngày thì có thể đạt tỷ lệ sống và ra rễ từ 70% - 80%. Nhóm khó ra rễ: Hom giâm yêu cầu thiết lập không gian ngoại cảnh thật hợp lý, thời gian và nồng độ xử lý kích thích sinh trưởng được xác lập rõ cùng với mùa lay hom mới có khả năng đạt tỷ lệ sông và ra rễ từ 30% - 70% (Trần Trọng Nghia, 2007).
Từ đó, ta có thé xếp cây xạ đen vào nhóm ra rễ trung bình, vì nếu không sử dụng chất kích thích ra rễ, tỉ lệ sống ở cây đạt tỉ lệ khá thấp khoảng 20% - 30%.2 Tuổi của hom và vi trí lấy hom Tuổi của cây mẹ lây hom, có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom. Hom lây từ cây ít tuổi có tỷ lệ ra rễ cao hơn cây nhiêu tuổi. Hom lấy từ những cành khác nhau trên cùng một cây hay vi trí cành tiêp xúc trực tiép với ánh sáng và cành trong bóng ram sẽ dẫn đến tỷ lệ ra rễ khác nhau (Nguyễn Thị Ngọc Trâm, 2013).3 Một số yếu tố khác Quá trình giâm hom còn phụ thuộc một số yếu tố như: Sự tổn tại của lá trên hom, cau trúc mạch, tế bao của hom, trạng thái kích thích hom và tương quan kích thích của cây cho hom, am độ không khí va âm độ giá thê, nhiệt độ, ánh sáng, gió, thành phan giá thé, dinh dưỡng và kích thích sinh trưởng .3 Chat điều hòa sinh trưởng NAA và những nghiên cứu về NAA trên cây xạ đen 1.1 Chất điều hòa sinh trưởng NAA 1.1 Tổng quan về NAA NAA hay còn biết đến với tên gọi day đủ là 1-Naphthaleneacetic acid hay a- naphtalene acetic acid. Đây là hợp chất hữu cơ với công thức hoá học là C10H7CH2CO2H (Đỗ Ngọc Thúy, 2019).2 Tác dụng và ứng dụng của NAA NAA là hormone tong hợp trong họ Auxin và cũng là thành phan trong sản phẩm giúp kích thích ra rễ.
Do đó, hormone NAA thường được sử dụng trong nông nghiệp nhằm giúp quá trìh nhân giống, lá hoặc thân được cắt ra và kích thích ra rễ. Nó còn được sử dụng phổ biến trong nuôi cay mô thực vật, kết hợp cùng với các loại hormone khác dé định hình sự tăng trưởng của mô thực vật. Tuy nhiên việc sử dụng hormone điều hòa sinh trưởng NAA cũng có thể gây độc tổ cho cây và động vật nếu không biết dùng đúng cách (Wikipedia, 2022).2 Ảnh hưởng của NAA trong nhân giống vô tính cây trồng Nghiên cứu khả năng nhân giống hoàng liên ô rô (Mahonia Nepalensis DC.) bang phương pháp giâm hom do Nguyễn Thanh Nguyên và Nguyễn Cao Xuân Viên (2010) thực hiện cho thấy khi nồng độ các chất kích thích sinh trưởng NAA tăng dan từ 500 ppm đến 1.500 ppm thì tỷ lệ ra rễ cũng tăng dần lên, nhưng từ 2.500 ppm thì khả năng ra rễ giảm xuống. Hom giâm được xử lý NAA cho kết qua ra rễ cao nhất và chất lượng rễ tốt ở cả 2 mùa, mùa khô với nồng độ 1.