mở đầu bằng Ca ra bộ và nối tiếp là Cải lương. Đàn ca tài tử có một sô lượng bài khá phong phú. Ngoài việc sử dụng một sô bài ban trong nhạc lê, còn có các bài xuât phat từ ca Huê, dan ca Trung Bộ, miên Nam, và một sô lượng lớn do các nghệ nhân bậc thây sáng tác và cải biên. Do đặc tính ngôn ngữ và sinh hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc miền Trung được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử.
Một số bài nồi tiếng được nhiều người biết đến như: bài Bình Bán của ca Huế được phát triển thành Bình Bán Văn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy của Huế được cải biên thành Lưu Thủy Đoàn, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản. 12 Nhạc phâm của Đàn ca tài tử khá phong phú, nhưng các chuyên gia cho rang đàn ca chỉ có 20 bài tô được gọi là “nhị thập huyền tổ bản”, chia thành hai điệu : điệu Bắc và điệu Nam. Trong 20 bản tổ có 7 bản Lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Có ý kiến cho rằng các nhạc phẩm này do ông Ba Đợi tập hợp, nhuận sắc và được xem như là những bài cơ bản cho những nghệ sỹ trẻ bước vào nghệ thuật Đàn ca tài tử.
Năm 1945, ông Nguyễn Văn Thịnh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn đã đúc kết thành một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam được gọi là “Thất thập nhị huyền công”. Theo đó một nghệ nhân sẽ được coi là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tô. Đề đạt được đăng cấp cao nghệ nhân đó phải biết trọn vẹn 72 bài bản cổ. Dan ca tài tử được sáng tao dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình và những giai điệu ngọt ngào sâu lắng của dân ca miền Trung và miền Nam.
Đây là loại hình nghệ thuật đặc trưng của miệt vườn sông nước, kết hợp hòa quyện đặc sắc giữa tiếng đàn, lời ca và bộ điệu biểu diễn, phản ánh tỉnh hoa văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc. Mỗi quan hệ giữa Đờn ca tài tử với Cải lương Dan ca tài tử và Cải lương là hai loại hình nghệ thuật truyền thống dân tộc Việt Nam và mang nét đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đây cũng là hai môn nghệ thuật độc đáo luôn được nhân dân sáng tạo, nuôi dưỡng và không ngừng đổi mới, được nhiều tầng lớp xã hội ưa chuộng, có sức lan tỏa rộng trong và ngoài nước. Đàn ca tài tử ngay từ khi định hình là một bộ môn nghệ thuật dân tộc, cũng là lúc nó trở thành một trong những nhân tố quan trong dẫn đến sự ra đời của nghệ thuật sân khẩu Cải lương.
Và khi nghệ thuật Cải lương định hình thì cả hai loại hình nghệ thuật nay cùng đồng hành, phát triển trong mối quan hệ gan bó mật thiết, tương tác bổ sung cho nhau cả về lực lượng nghệ sĩ, sáng tác bài bản, trình độ và bản lĩnh nghê nghiệp. Các văn nghệ sĩ nói chung từ ca sĩ, diễn viên, nhạc sĩ cho 13 đến biên kịch, đạo diễn đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa hai loại hình nghệ thuật Đàn ca tài tử và Cải lương. Đàn ca tài tử còn mang màu sắc của một loại dân nhạc cận sân khấu, còn Cải lương mang dau ấn của sân khấu ca kịch. Ca nhạc dân gian và sân khấu déu là hai phạm trù đặc trưng cho cách biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
Sự khác nhau về hình thức này không thể không dẫn đến sự khác nhau về nội dung, tính chất. Nói về biểu diễn hai loại hình, Đạo diễn Trần Ngọc Giau cho biết: Dan ca tai tử mang tính sáng tác và biểu diễn ngẫu hứng, còn Cải lương nặng về diễn xuất diễn viên nhăm thé hiện một nội dungnao đó nhất định. Bên cạnh đó, đàn ca tài tử mang tính cá nhân phóng túng nhiều hơn Cải lương. Bởi Cải lương có sự chỉ đạo của đạo diễn và sáng tạo trong khuôn khổ, còn Đàn ca tài tử có luật chơi riêng thê hiện rat rõ khả năng chẻ nhịp nha chữ của ca sỹ.
Từ khi nghệ thuật sân khấu Cải lương hình thành, không có trường chuyên đào tạo nghệ sĩ sân khẩu Cải lương mà tat cả đều tự dao tao từ phong trào Dan ca tài tử. Những nghệ sĩ tiền phong tiêu biểu như: Năm Châu, Tư Chơi, Tám Danh, Ba Du, Ba Vân, Phùng Hd, Bay Nam, Năm Phi, Năm Thoàn. đều tự học qua phim ảnh, sách vở, hoặc tự rèn luyện qua kinh nghiệm bản thân và nhờ sự hướng dẫn truyền ngón, truyền nghề từ thế hệ này qua thé hệ khác. Hiện nay chưa có công trình sưu tập nào day đủ tất cả bài ca có trong nhạc mục Dan ca tài tử, cũng như xác dinh rõ tên tuôi tác giả, thời gian xuất hiện và số lượng dị bản ( như sự khác nhau về dung lượng, số câu, số nhịp, nhịp nội và nhịp ngoại).
Đối với lực lượng sáng tác thuộc phạm vi hoạt động của sân khấu Cải lương: Qua nghiên cứu những quyền sách in bài bản cổ nhạc từ trước đến nay, mặc dù chưa có công trình nghiên cứu nào xác định số lượng bài do cá nhân và tập thé những người làm ra vở diễn sân khẩu Cải lương sáng tác, nhưng căn cứ 14 vào tựa đê của bản nhạc, bài ca, có thê nghi vân xuât xứ của nó là từ sân khâu Cải lương. Ban dau Cải lương là biến thé của nghệ thuật Hát bội (Tuồng) xưa), hòa quyện cùng sự tiếp biến của Dan ca tài tử kết hợp với thé loại ca nhạc kịch nước ngoài. Từ đó hình thành một loại hình nghệ thuật mới có kịch bản ca diễn hoành tráng trên sân khâu. Theo thời gian, Cải lương dan có sự tổng hợp nhạc dân tộc dân gian, kịch nói, hoạt kê hài hước, hồ quảng, ké cả tân nhạc.
thành những vở tuồng có bố cục, lớp lang và rất công phu trong biên kịch, đạo diễn và dàn dựng. Người nghệ sĩ phải được hóa trang và hóa thân vào vai diễn trên sân khấu. Cải lương có các gánh hát có ông bau, ông chủ, có bán vé, thu nhập ổn định cho nghệ sỹ. Bản thân hai chữ “Cải lương” đã cho thấy bản chất của sự cải tiến, đổi mới nhằm đáp ứng nhu cau thị hiếu công chúng.
Vì vậy Cải lương là loại hình nghệ thuật hoàng kim, cuốn hút người xem ở Nam bộ trọn thế kỷ XX. Trong phần âm nhac của Dan ca tài tử cũng có không ít bài bản được sáng tác bổ sung từ nhu cầu phát triển của sân khẩu Cải lương. Như vậy, hai hình thức nghệ thuật biéu diễn này có quan hệ tương hỗ và tính độc lập tương đối của nó trong sự song hành phát triên. Lịch sử hình thành và phát triển Cải lương Cải lương là một loại hình nghệ thuật đặc san tinh thần miền Nam đặc biệt là các tỉnh vùng Nam Bộ.
Nhà nghiên cứu văn hóa Tran Văn Khê cho rang: Cải lương được hiểu như la sự cải biến, biến đôi cho trở nên tốt hơn so với thê loại Hát bội. Cai lương được thé hiện qua hình thức sân khấu biểu diễn, có dé tài, kịch bản, hoạt động biểu diễn và dàn nhạc thực hiện một cách bai bản. Từ xa xưa thì ở đất nước Việt Nam chỉ có diễn Tuồng, Chéo là ở miền Bắc và miền Trung thì có hát ví Hát bội Miền Nam. Đền đầu thế kỷ XX, được xác 15 dinh một cách ước lệ là vào năm 1917, Cải lương ra đời.
Nó đã trở thành một thê loại kịch hát thực sự mới mẻ, được nhiều người yêu thích.Bỗi cảnh ra đời Trong thế kỷ XX, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của người dân bắt đầu có xu hướng tăng, đặc biệt là các hình thức nghệ thuật mang đặc trưng vùng miền. Khi có sự kết hợp với những trò dân gian bản địa nhưng vẫn chưa được đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đòi hỏi phải có một hình thức nghệ thuật mới hơn và nội dung gần gũi hơn với cuộc sống thường ngày và thỏa mãn được nhu cầu thưởng thức của người dân đó chính là Đờn ca tải tử. Theo tài liệu của ông Trần Văn Khải thì bản nhạc tài tử ở Mỹ Tho do Nguyễn Tống Triều viết sử dung đàn kìm và đàn cò, thủ cây đàn độc huyền, thôi ống tiêu, đàn tranh và hát. Và bản nhạc này thường hay được biểu diễn tại Minh Tân một khách sạn gần xe lửa Mỹ Tho.
Và bài nhạc này đã thu hút được rất nhiều người đến xem. Và cũng chính bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sâu kháu hát chập. Ca nhạc Cải lương đã dần bước lên sân khấu với hát chập. Một nữ danh ca hát “sa long” nổi tiếng hát dam với những câu hai hước trong các bài Đại lang dam và Bùi Kiém dam; Bùi Kiệm — Nguyệt Nga.
Lúc đầu chỉ ngồi trên bộ ván dé hát. Về sau mới đứng dậy vừa hát vừa bộ và lúc này hình thức Ca ra bộ. Từ Ca ra bộ đến ca kịch là vừa hát vừa diễn tả lời ca với những động tác được tiếp thu từ Hát bội như tay chân, mắt, nụ cười. Thời kỳ đầu đa số diễn viên đều từ sân khấu Hát bội sang hát Cải lương va từ tuồng kịch cũng chuyển sang Hát bội.
Thể loại này được nhiều người yêu thích và được biểu diễn rộng khắp mọi nơi ở Nam Bộ. Trong hoàn cảnh ấy, năm 19917, ông Năm Thận (thay Thận) ở Sa Déc đã quyết định bỏ gánh Xiếc và mời Trương Duy Toản về dung vở hát Luc Van Tiên, với dan đào kéo là những người đã từng nổi tiếng trong các mạn Ca ra bộ như: 16 Hai Cúc, Bảy Thông, Tám Cang. Đây là dấu mốc rất quan trọng cho sự ra đời của nghệ thuật sân khấu Cải lương. Từ gánh hát của ông Năm Thận làm ăn rất phát đạt, Pierre Châu Văn Tú bỏ tiền ra mua chuộc các diễn viên của gánh ông Thận về kết hợp với diễn viên của ban ca nhạc tài tử Từ Hiếu, mướn họa sĩ vẽ tranh cảnh sơn thủy, may màn nhung, mua thêm những nhạc cụ như kèn Tây, thành lập gánh hát vào năm 1918.
Ông Trương Duy Toản được mời về soạn Tuồng Kim Vân Kiểu và chiếu vào ngày 15/3/1981 tại Tạp thay Năm Tú với nhiều diễn viên như Tư Sáng, Ba Đắc, Ba Du, Tám Danh. các nghệ sĩ trở thành những cây đại thụ của Nghệ thuật sân khấu Cải lương sau nảy. Ganh hat Cải lương Tân Thinh được xây dựng tại Sa Đéc vào khoảng những năm 20 của thé ky trước, được khai trương tại Sai Gòn. Gánh Cải lương Tan Thinh chính là nhà hát Cải lương đầu tiên ở Sài Gòn của ông bầu Nguyễn Văn Thông.