Chương 1: Ký ức về chiến tranh Việt Nam giữa lịch sử và tiểu thuyết. Chương 2: Quan niệm về chiến tranh và chiến lược tự sự trong tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ của Huỳnh Trọng Khang. Chương 3: Ghi nhớ và tái hiện chiến tranh trong tiêu thuyết Mộ phần tuổi trẻ của Huỳnh Trọng Khang. KÝ UC VE CHIEN TRANH VIỆT NAM GIỮA LICH SỬ VÀ TIỂU THUYET 1.
Lịch sử quan phương và ký ức chính thống 1. Diễn giải độc quyền về cuộc chiến Tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ của Huỳnh Trọng Khang lấy phông nền lịch sử từ cuộc xâm lăng của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam những năm 60. Điều này đòi hỏi nhà văn vừa phải có sự sáng tạo tuyệt vời để không lặp lại với những motif tác phẩm cũ lại vừa phải đảm bảo không bóp méo sự thật lịch sử, đi ngược lại với truyền thống yêu nước của dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước nói chung và cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta nói riêng, Đảng và nhân dân luôn đề cao lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần tự hào dân tộc vô cùng sâu sắc.
Đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại Đại hội lần thứ IV (12/1976), Đảng ta đã khăng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử của dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc” [56,tr. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thé hiện khát vọng lớn lao và lợi ích cơ bản, chính đáng của đại đa số người dân Việt Nam là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Chúng ta dau tranh vì quyên tự đo, độc lập, tự quyết của dân tộc, dau tranh vì quyền sống, quyền được hưởng hòa bình, hạnh phúc của con người. Do đó, nó là sự nghiệp chính nghĩa, là công lý để vận động các lực lượng quốc tế yêu chuộng hòa bình ủng hộ cuộc kháng chiên vì nên độc lập của Việt Nam.
12 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khăng định rằng “nhân dân Việt Nam chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn và vì sự tôn trọng sự thực và công lý”. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã luôn dựa vào lòng yêu nước chân chính của người Việt Nam với những giá trị bền vững của công lý dé tăng cường đoàn kết quốc tế, hình thành nên một mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Vì thế, dân tộc ta có thể tự hào rằng: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là hiện thân của công lý, là biểu tượng sáng ngời của chính nghĩa thắng phi nghĩa, của văn minh thắng bạo tàn, của hòa bình độc lập dân tộc thắng chủ nghĩa thực dân. Hầu hết ở các tài liệu lịch sử chính thống, dù đề cập đến các góc độ khác nhau thì các công trình khoa học đều khăng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cùng với vai trò, tầm quan trọng của Đảng Cộng sản và sức mạnh toàn dân với cách mạng ở từng giai đoạn.
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu lịch sử đi trước, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi có thé tóm tắt quá trình hon 20 năm ròng rã kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta như sau: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi vào ngày 7/5/1954, quân đội Pháp bị thất bại hoàn toàn và phải chấp nhận ngồi đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ (8/5/1954). Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương đã được kí kết vào ngày 20/7/1954. Trong thời gian miền Nam do thực dân Pháp tạm thời kiểm soát, sau 2 năm sẽ tông tuyển cử, thống nhất nước nhà thì dé quốc Mỹ đã âm mưu từng bước nhằm thay thế Pháp và thành lập chính phủ tay sai Ngô Đình Diệm. Mỹ trang tron phá hoại Hiệp định Gionevo, khủng bố, đàn áp tàn bạo nhân dân miền Nam.
Đặc biệt,tháng5/1959, Chính phủ Việt Nam 13 Cộng hòa dưới sự bảo trợ của Mỹ đã thông qua luật 10/1959, lê máy chém khắp miền Nam. Từ năm 1954 đến năm 1975, dé quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh ở Việt Nam như Chiến tranh Đơn phương, Chiến tranh Đặc biệt, Chiến tranh Cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, nhân dân ta đã đứng dậy thực hiện cuộc chiến tranh vệ quốc tiễn tới thong nhất đất nước. Trong cuộc chiến ấy, tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã được phát huy đến mức cao nhất, thé hiện ở lòng quyết tâm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Dù sống trong thời chiến hay thời bình thì trên khắp các lĩnh vực của đời sông, Đảng và nhà nước ta luôn dé cao lẽ phải, chính nghĩa và công lý ấy. Đối với người Việt Nam, đó là một điều thiêng liêng, là cái chi phối và là thước đo hạnh phúc của con người. Vì thế, có thể nói ký ức phổ biến về lịch sử giải phóng dân tộc hầu hết được thê hiện với tính chất ngợi ca, tự hào khi chỉ được tạo lập từ quan điểm của “quân ta”. Công chúng sẽ ít được biết đến đời sống thực sự của bên phía bị xem là “ngụy quân”, “ngụy quyên”.
Chính bởi những điều mang tính chất dân tộc đó nên khi chọn viết về đề tài chiến tranh dưới con mắt của một người dân miền Nam Cộng hòa sẽ là một sự thách thức không hề nhỏ đối với nhà văn trẻ Huỳnh Trọng Khang. Mặc dù vậy, với sự linh hoạt trong cách viết, chúng ta có thể nhận thấy tiêu thuyết Mộ phần tuổi trẻ không đi ngược lại ký ức chính thống, nhà văn đã có cách xử lí mới mẻ, sáng tạo từ chất liệu vốn bat biến này. Tác phẩm như một cuộc khai quật miên man, dang dặc tất cả những gi liên quan đên một nên Cộng Hòa non yêu, từ cái chêt của anh em Ngô Đình 14 Diệm, cái chết của Nhất Linh đến cơn điên của Bùi Giáng và sự kiện cuộc Tổng tiễn công và noi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968. từng thứ một kết dính với nhau bằng những suy nghĩ từ tâm can của nhân vật được viết ra từ ngòi bút đồi dào sức trẻ.
Từ đó, tác phẩm đem đến cho độc giả không khí thời cuộc đầy mâu thuẫn, khủng hoảng lúc bấy giờ. Sự tạo lập ký ức chính thống Buộc phải đương đầu với hai kẻ thù lớn mạnh nên trong một thời gian dài, để cổ vũ cho chiến đấu, nhà nước ta rất chú trọng phản ánh những chiến công hào hùng của quân và dân trên mọi lĩnh vực của đời sống. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngoài những văn kiện lịch sử mang tính chất chính trị thì lĩnh vực điện ảnh cũng bắt đầu được chú ý và đầu tư. Những hình ảnh bom đạn giày xéo quê hương, hình ảnh cha ông ngã xuống trong trận chiến đầy khốc liệt được tái hiện chân thực qua các bộ phim.
Có những bộ phim được coi là kinh điển về chiến tranh Việt Nam luôn đem đến cho khán giả cảm giác tự hào khó tả mỗi khi xem lại như Noi gió (Đạo diễn Huy Thành — 1966), Vi tuyén 17 ngày và đêm (Đạo diễn Hải Ninh — 1972), Em bé Hà Nội (Đạo diễn Hải Ninh — 1974), Biệt động Sài Gòn (Đạo diễn Long Vân — 1986), Hà Nội 12 ngày đêm (Đạo diễn Bùi Dinh Hạc — 2002), Giải phòng Sài Gòn (Đạo diễn Long Vân — 2005), Áo lụa Hà Đông (Đạo diễn Lưu Huỳnh — 2006), Đừng đốt (Đạo diễn Đặng Nhật Minh — 2009), Mui co cháy (Đạo diễn Nguyễn Hữu Mười — 2012), Những người viết huyén thoại (Đạo diễn Bùi Tuan Dũng — 2013). Từ đó, quần chúng dan có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến tranh trường kỳ và vĩ đại của dân tộc. Hòa chung với không khí chiến đấu hào hùng của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học Việt Nam cũng đóng một vai trò không nhỏ trong việc cô vũ, tuyên truyên, tái hiện lịch sử và suy ngâm về 15 nó từ nhiều góc độ .Trong tiến trình văn học từ 1945 đến nay, cách tiếp cận với chất liệu lịch sử có sự thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử. Giai đoạn 1945 — 1975, văn học chủ yêu hướng đến cái ta chung, phản ánh hiện thực chiến trường hào hùng cùng với những chiến công bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Sau năm 1975, khi chúng ta đã có độ lùi thời gian nhất định, chiến tranh được nhìn nhận một cách toàn diện với sự hi sinh, mất mát, đau thương mà dân tộc ta phải đối diện trong suốt thời gian dài kháng chiến và những hậu quả nặng nề của chiến tranh dé lại. Văn học về chiến tranh van đang không ngừng vận động dé kiếm tìm những giá trị mới mẻ làm giàu cho nền văn học nói chung và thé loại tiêu thuyết nói riêng. Bắt đầu năm 1954, dân tộc ta lại bước vào một cuộc chiến gian khổ khi Mỹ thực hiện những âm mưu độc ác nhăm biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc một lần nữa được trỗi dậy một cách mạnh mẽ.
Hàng ngàn thanh niên Việt Nam từ biệt gia đình, người thân lên đường chống giặc. Trong vô vàn những trái tim nhiệt huyết ấy, có không ít người chiến sĩ là những nhà văn. Họ chiến dau hào hùng cả trên mặt trận đồng thời còn động viên, cô vũ đồng đội bằng ngòi bút và những trang văn của mình. Những van thơ của Tế Hanh đã thay lời muốn nói cho những nhà văn đầy trách nhiệm với vận mệnh dân tộc: “Chúng ta đi, bom đạn chắn ngang đường Chúng ta viết, trên mỗi dòng lá máu Mùa mưa ngập rừng, mùa khô lửa nau Những cơn đói giày vò quanh năm.
Ngày mai hạnh phúc cho nhân dân Ngày mai có thé mình không tồn tại 16 Có gì đâu, có gì đâu tự do là vậy Ta đã chọn rồi, tỪ những bước đầu tiên” [83, tr.