Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định yêu cầu tạo đột phá căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2021–2030. Đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo lý luận chính trị giữ vai trò nòng cốt trong việc truyền thụ tri thức, định hình thế giới quan và bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm, năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo trường Đảng vẫn bộc lộ những khoảng cách nhất định so với đòi hỏi thực tiễn.

Luận văn tập trung giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy thông qua nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng năng lực sư phạm tại Học viện Chính trị khu vực II. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa các tiêu chuẩn năng lực, phân tích điểm mạnh, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của 132 giảng viên trực thuộc Học viện.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập không gian tại Học viện Chính trị khu vực II tại Thành phố Hồ Chí Minh, với dữ liệu thực tế thu thập trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp các luận cứ khoa học để chuẩn hóa tỷ lệ 1 giảng viên trên 10 đến 15 học viên, đồng thời thúc đẩy mục tiêu nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ từ 36% lên mức 38% đến 40% trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết khoa sư phạm tích hợp của Xavier Roegiers (1996), trong đó năng lực được định nghĩa là sự huy động, tích hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết hiệu quả những tình huống phức tạp trong hoạt động nghề nghiệp. Đồng thời, đề tài tiếp thu tư tưởng quản trị nhân lực hiện đại của Peter Drucker (1990) về thiết lập mục tiêu, đánh giá hiệu suất và tạo động lực phát triển chuyên môn cho người lao động tri thức. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa khung tiêu chuẩn năng lực giảng viên đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng POHE 2 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2015, kết hợp các quy định tại Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Quyết định số 2252-QĐ/HVCTQG ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Khung khái niệm công cụ của luận văn tập trung vào 4 thuật ngữ cốt lõi:

  • Năng lực: Thuộc tính tâm lý cá nhân thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tri thức, kỹ năng và thái độ nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cụ thể.
  • Năng lực sư phạm: Tổ hợp các phẩm chất và năng lực chuyên biệt đảm bảo cho hoạt động giảng dạy, giáo dục đạt chất lượng tối ưu.
  • Giảng viên trường Đảng: Đội ngũ viên chức giảng dạy lý luận chính trị, khoa học lãnh đạo quản lý, vừa mang tư cách nhà giáo vừa mang phẩm chất của cán bộ làm công tác tư tưởng.
  • Cấu trúc năng lực sư phạm: Mô hình chuẩn hóa gồm 4 nhóm năng lực tương ứng với 4 nhóm tiêu chuẩn đánh giá: Năng lực dạy học (kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy); Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm (phát triển chương trình, nghiên cứu khoa học, kiến thức thực tiễn); Năng lực giáo dục (phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức); Năng lực tự hoàn thiện (tác phong, thái độ nghề nghiệp và tinh thần tự bồi dưỡng).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Nghiên cứu lý luận thực hiện phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa hơn 50 văn bản pháp quy, công trình khoa học trong nước và quốc tế để xây dựng bộ công cụ khảo sát.

Về nghiên cứu thực tiễn, tác giả áp dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu và xin ý kiến chuyên gia. Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 165 phiếu, thu về 161 phiếu (đạt tỷ lệ 98%), sau khi làm sạch thu được 140 phiếu hợp lệ (đạt 85%). Cỡ mẫu 140 khách thể bao gồm 30 cán bộ quản lý, giảng viên và 110 học viên các lớp Cao cấp lý luận chính trị, Cử nhân chính trị. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện nhằm bảo đảm tính đại diện cho các khoa chuyên môn và các hệ đào tạo tại Học viện Chính trị khu vực II.

Dữ liệu định lượng được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học trên phần mềm bảng tính Excel, áp dụng công thức tính điểm trung bình (Mean) theo thang đo Likert 4 mức độ: Loại Tốt (3,26 đến 4,00 điểm), Loại Khá (2,51 đến 3,25 điểm), Loại Trung bình (1,76 đến 2,50 điểm) và Loại Yếu (1,00 đến 1,75 điểm). Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa khách quan các tiêu chí định tính, tạo cơ sở đối sánh tin cậy giữa các nhóm đối tượng khảo sát. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai tập trung trong giai đoạn 2018–2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng đội ngũ và năng lực sư phạm tại Học viện Chính trị khu vực II mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

Thứ nhất, về cơ cấu trình độ của 132 giảng viên đang công tác: Giảng viên có học hàm Phó Giáo sư, học vị Tiến sĩ gồm 3 người (chiếm tỷ trọng 2%); học vị Tiến sĩ gồm 48 người (chiếm 36%); học vị Thạc sĩ gồm 81 người (chiếm tỷ trọng lớn nhất với 61%). Về chức danh nghề nghiệp, ngạch giảng viên cao cấp có 12 người (chiếm 9,1%), giảng viên chính có 58 người (chiếm 43,9%) và giảng viên có 62 người (chiếm 47,0%). Về độ tuổi, lực lượng giảng viên trẻ từ 25 đến 35 tuổi chiếm số lượng đông đảo với 60 người (khoảng 45,5%), từ 36 đến 45 tuổi có 45 người (khoảng 34,1%) và từ 46 đến trên 60 tuổi có 27 người (khoảng 20,4%).

Thứ hai, kết quả đánh giá kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm dạy học của giảng viên nhìn chung đạt mức Khá với điểm trung bình dao động từ 2,77 đến 3,00 điểm. Tiêu chí nắm vững và cập nhật kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên ngành đạt điểm cao nhất là 3,00 điểm (36,7% xếp loại Tốt; 36,7% xếp loại Khá; 16,7% Trung bình và 10,0% Yếu). Tiêu chí có kinh nghiệm dạy học đạt mức điểm trung bình 2,90 (33,3% Tốt; 33,3% Khá; 23,3% Trung bình; 10,0% Yếu).

Thứ ba, khả năng gắn kết lý luận với thực tiễn và hội nhập quốc tế còn bộc lộ khoảng cách: Tiêu chí nắm bắt, tích hợp chủ trương, đường lối vào bài giảng đạt điểm trung bình 2,83 (26,7% Tốt; 36,7% Khá; 30,0% Trung bình; 6,7% Yếu). Đáng chú ý, tiêu chí tầm nhìn quốc tế và vận dụng kiến thức hội nhập đạt điểm trung bình thấp nhất ở mức 2,77 (chỉ có 26,7% Tốt; 33,3% Khá; trong khi có tới 30,0% Trung bình và 10,0% Yếu).

Thứ tư, công tác đánh giá, phân loại viên chức tại đơn vị năm 2018 ghi nhận: Có 27 cá nhân (10,7%) hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 180 cá nhân (71,4%) hoàn thành tốt nhiệm vụ và 45 cá nhân (17,9%) hoàn thành nhiệm vụ.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu thống kê trên có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu học vị (2% Phó Giáo sư, 36% Tiến sĩ, 61% Thạc sĩ) và bảng đối chiếu điểm trung bình giữa đánh giá của cán bộ quản lý với học viên nhằm làm nổi bật sự chênh lệch nhận thức về chất lượng giảng dạy.

Nguyên nhân của những hạn chế xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan:

  • Về mặt chủ quan: Đội ngũ giảng viên trẻ dưới 35 tuổi chiếm tới 45,5% tổng số nhân sự, nhóm này giàu nhiệt huyết nhưng còn thiếu vốn sống thực tiễn ở các địa phương phía Nam. Trong khi đó, một bộ phận giảng viên lớn tuổi có thâm niên công tác trên 30 năm (hiện còn 20 trường hợp) lại gặp rào cản nhất định trong việc cập nhật công nghệ thông tin và ngoại ngữ theo chuẩn mới. Tinh thần tự giác đổi mới phương pháp giảng dạy chưa thực sự đồng đều.
  • Về mặt khách quan: Khung chương trình đào tạo lý luận chính trị tương đối dày đặc khiến giảng viên chịu áp lực hoàn thành định mức giờ dạy, thiếu thời gian thâm nhập thực tế dài hạn hoặc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu. Cơ chế tài chính và nguồn kinh phí dành cho bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế.

So sánh với các nghiên cứu của Lê Mỹ Dung (2014) về năng lực sư phạm đại học hay Hồ Đức Thăng (2018) về giảng viên trường quân sự, kết quả tại Học viện Chính trị khu vực II có sự tương đồng lớn: Năng lực chuyên môn luôn là thế mạnh nổi trội, nhưng kỹ năng tích hợp thực tiễn, năng lực tự hoàn thiện và trình độ ứng dụng công nghệ giảng dạy hiện đại vẫn là điểm nghẽn phổ biến cần các giải pháp can thiệp có hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển toàn diện năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị khu vực II, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, đổi mới và đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Ban Giám đốc cùng Ban Quản lý đào tạo cần chủ trì xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ, triển khai tối thiểu 07 lớp bồi dưỡng chuyên đề mỗi năm về phương pháp giảng dạy tích cực, kỹ năng tích hợp chỉ số PAPI và ứng dụng công nghệ thông tin. Mục tiêu đến năm 2023 đạt 95% giảng viên làm chủ các phần mềm giảng dạy trực tuyến và phương pháp sư phạm tương tác hiện đại.

Thứ hai, nâng cao nhận thức nghề nghiệp và chuẩn hóa văn hóa trường Đảng. Đảng ủy và Ban Tổ chức - Cán bộ tổ chức định kỳ 02 hội nghị chuyên đề mỗi năm về đạo đức nhà giáo, bản lĩnh chính trị và tác phong mẫu mực của giảng viên trường Đảng. Thời gian thực hiện từ quý I năm 2021, đảm bảo 100% cán bộ, giảng viên tham gia học tập, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tinh thần phục vụ người học.

Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống đánh giá và tự đánh giá năng lực giảng viên theo bộ chỉ số KPI. Ban Tổ chức - Cán bộ phối hợp cùng các Khoa chuyên môn xây dựng quy trình đánh giá 360 độ kết hợp tự đánh giá, đánh giá từ đồng nghiệp và phản hồi từ 100% học viên sau mỗi môn học. Lộ trình triển khai từ quý II năm 2021, hướng tới mục tiêu trên 85% giảng viên đạt mức đánh giá năng lực sư phạm Tốt và Xuất sắc hàng năm.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và cơ chế tạo động lực. Ban Giám đốc và Ban Kế hoạch - Tài chính ban hành quy chế chi tiêu nội bộ mới, tăng mức phụ cấp nghiên cứu khoa học thêm 20% đến 30%, hỗ trợ tối đa kinh phí và thời gian cho giảng viên làm nghiên cứu sinh. Mục tiêu hoàn thành trước năm 2022 nhằm nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt từ 38% đến 40%, bảo đảm đáp ứng quy mô đào tạo ngày càng mở rộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo chính trị:

  • Cán bộ quản lý và Ban Giám đốc các trường chính trị tỉnh, thành phố, học viện khu vực: Tài liệu cung cấp khung tiêu chuẩn 4 thành tố cùng bộ giải pháp quản lý cụ thể giúp xây dựng đề án vị trí việc làm, quy hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm sát với nhu cầu đơn vị.
  • Đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy lý luận chính trị: Giảng viên có thể sử dụng các tiêu chí trong luận văn làm công cụ tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm sư phạm và năng lực hội nhập, từ đó lập kế hoạch tự học tập, nghiên cứu thực tế để hoàn thiện bản thân.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục và Giáo dục học: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế công cụ khảo sát 140 mẫu, xử lý số liệu thống kê Likert 4 mức độ và phương pháp tiếp cận nghiên cứu năng lực giảng viên đại học.
  • Các cơ quan tham mưu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước: Cung cấp bằng chứng thực tiễn từ khảo sát 132 giảng viên tại miền Nam, làm cơ sở khoa học để đề xuất chính sách đãi ngộ, chế độ luân chuyển thực tế và tiêu chuẩn chức danh nhà giáo trường chính trị.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc năng lực sư phạm của giảng viên trường Đảng gồm những thành tố nào?

Cấu trúc năng lực sư phạm theo luận văn gồm 4 nhóm chính: Năng lực dạy học (vững chuyên môn, kỹ thuật truyền đạt); Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm (phát triển giáo trình, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn); Năng lực giáo dục (bản lĩnh chính trị, đạo đức trường Đảng, năng lực cảm hóa); Năng lực tự hoàn thiện (tác phong mẫu mực, khả năng tự học và thích ứng hội nhập).

Thực trạng trình độ của đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị khu vực II hiện nay ra sao?

Theo số liệu khảo sát năm 2020 trên tổng số 132 giảng viên: Đội ngũ có 3 Phó Giáo sư, Tiến sĩ (chiếm 2%), 48 Tiến sĩ (chiếm 36%) và 81 Thạc sĩ (chiếm 61%). Về cơ cấu độ tuổi, có tới 60 giảng viên trẻ từ 25 đến 35 tuổi (chiếm 45,5%), cho thấy tiềm năng phát triển lớn nhưng đòi hỏi phải tăng cường bồi dưỡng kinh nghiệm thực tiễn.

Điểm nghẽn lớn nhất trong năng lực sư phạm của giảng viên là gì?

Khảo sát chỉ ra điểm nghẽn nằm ở năng lực hội nhập quốc tế và tích hợp thực tiễn vào bài giảng. Cụ thể, tiêu chí tầm nhìn quốc tế chỉ đạt điểm trung bình 2,77 trên 4,00 với 40% đánh giá ở mức Trung bình và Yếu. Bên cạnh đó, việc thâm nhập thực tế tại các địa phương phía Nam còn hạn chế do áp lực định mức giờ dạy.

Phương pháp chọn mẫu và công cụ khảo sát trong luận văn được thực hiện như thế nào?

Nghiên cứu khảo sát 165 đối tượng, thu về 140 phiếu hợp lệ (đạt 85%) gồm 30 cán bộ quản lý, giảng viên và 110 học viên các hệ lớp. Bộ công cụ sử dụng bảng hỏi Likert 4 mức độ kết hợp phỏng vấn sâu 5 chuyên gia, xử lý dữ liệu qua phần mềm thống kê để tính điểm trung bình và tỷ lệ phần trăm chuẩn xác.

Tính khả thi của 4 biện pháp phát triển năng lực sư phạm được đánh giá như thế nào?

Khảo nghiệm thực tế từ các chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên khẳng định cả 4 biện pháp đều có tính cần thiết và tính khả thi rất cao (đạt mức điểm trung bình từ 3,26 đến 4,00 điểm). Các biện pháp có sự liên kết chặt chẽ từ đổi mới bồi dưỡng, nâng cao nhận thức đến kiểm tra đánh giá và tạo động lực tài chính.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cấu trúc năng lực sư phạm gồm 4 nhóm thành tố cốt lõi áp dụng đặc thù cho giảng viên trường Đảng.
  • Khảo sát thực tiễn 140 mẫu tại Học viện Chính trị khu vực II làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về đội ngũ với 36% tiến sĩ và 61% thạc sĩ, đạt mức năng lực chuyên môn Khá (điểm trung bình 2,77 đến 3,00).
  • Luận văn xác định rõ các rào cản về năng lực hội nhập quốc tế, kỹ năng ứng dụng công nghệ và sự thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn của 45,5% giảng viên trẻ dưới 35 tuổi.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá: Đổi mới hình thức bồi dưỡng, chuẩn hóa văn hóa trường Đảng, áp dụng KPI đánh giá 360 độ và hoàn thiện chính sách đãi ngộ tài chính.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ đến năm 2025, hướng tới đạt tỷ lệ 38% đến 40% giảng viên có trình độ tiến sĩ và bảo đảm tỷ lệ 1 giảng viên trên 10 đến 15 học viên.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực sư phạm đặc thù kết hợp công cụ đo lường định lượng, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về quản lý đào tạo tại các trường chính trị khu vực phía Nam.

Về lộ trình tiếp theo, các đơn vị đào tạo cần bắt tay triển khai ngay việc rà soát chuẩn năng lực và thí điểm quy trình đánh giá KPI từ năm 2021, đồng thời mở rộng các lớp bồi dưỡng phương pháp sư phạm hiện đại giai đoạn 2021–2025. Các cơ sở giáo dục lý luận chính trị và các nhà quản lý đào tạo hãy nghiên cứu, vận dụng sáng tạo mô hình và các giải pháp của luận văn nhằm nâng cao toàn diện chất lượng giảng dạy, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng cán bộ trong kỷ nguyên mới.