CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ TIN CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi Tính tự tin có vai trò rất quan trọng đối với con người nói chung và trẻ em nói riêng. Giáo dục tính tự tin cho trẻ mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng bởi vì ở lứa tuổi này, sự tăng trưởng và phát triển tâm lý, sinh lý đều diễn ra với một tốc độ lớn. Chính vì vậy, tính tự tin là vấn đề đã được quan tâm từ lâu và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành tâm lý học và giáo dục học. Trong lịch sử đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng, có tính chất quyết định của tính tự tin đối với cuộc sống xã hội và hình thành nhân cách con người.1 Một số nghiên cứu khoa học về giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo trên thế giới Vấn đề giáo dục tính tự tin cho trẻ từ lâu được các nhà tâm lý học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu, vào những năm thế kỷ XX, nhà tâm thần học người Nam Phi Joseph Wolpe là người sử dụng từ “tự tin” đầu tiên.
Việc nghiên cứu tính tự tin được bắt nguồn từ lý thuyết tâm lý hành vi do Ivan Paplov và Joseph Wolpe đã sáng lập bao gồm: Quan sát, cách ly, phân tích và phân loại hành vi tự tin. Hành vi tự tin không phải là phát minh của con người mà là một phần vốn có trong hành vi của loài người. Trong nghiên cứu của mình “Tự tin là điều kiện để phát triển nhân cách”. Nhà tâm lý học Nga T.Xkripkina đã cho thấy trong hàng loạt vấn đề nghiên cứu nhân cách của các nhà tâm lý học nga, vấn đề tự tin rất ít được đề cập đến.
Nghiên cứu sự tự tin là rất quan trọng để hiểu rõ cơ chế hình thành một nhân cách sáng tạo, chủ động, độc lập. Đã có các nhà tâm lý học nghiên cứu cảm giác tự tin, nói: “Nhu cầu quan trọng nhất của con người là tính tự tin”. Trong khi nghiên cứu về cảm giác tự tin họ nói: “Tự tin quá cũng không cần thiết, bởi vì đó không phải là một đặc điểm tích cực, nó có thể dẫn đến thô bạo. Người có tính tự tin cực đoan thường rơi vào cảnh “Không biết làm 5 ra vẻ biết”, rất tự đắc.
Hành vi đó trong giao tiếp xã hội, rất dễ tạo ra xung đột với người khác. Do đó họ cho rằng “Một người giàu tính tự tin phải là người chân thành, thẳng thắn, thực sự cầu thị, vừa cố gắng phát triển sở trường của mình, khiêm tốn mà không tự ti, tự tin mà không ngông cuồng”. [25] Bower nói “Thiếu tự tin là nguyên nhân của mọi thất bại". Ông đã đề cao vai trò của tự tin trong cuộc sống.
Thật vậy, trong thực tế không ít người cảm thấy số phận của mình long đong lận đận, cứ loay hoay mãi mà vẫn thất bại trong cuộc sống và trong công việc. Bời vì họ thường hay dựa dẫm vào người khác, họ không biết mình có những khả năng gì, do đó họ không biết đánh giá bản thân mình. Người thiếu tự tin vì thế trong chừng mực nào đó không thành đạt trong cuộc sống. Nhưng trong thực tế không phải ai cũng tìm hiểu, khám phá nó để củng cố tự tin của mình để sống tích cực hơn.
Như vậy, Bower đã đề cao vai trò tính tự tin đối với quá trình phát triển đời người. Ông đã phát triển lý thuyết giáo dục tính tự tin lên một nấc thang mới cao hơn. Theo Rudaki: “Tính tự tin chính là trụ cột của tinh thần phong độ, khiến con người cởi mở lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết sử lý vấn đề một cách quyết đoán, nhanh gọn”. [15] Nghiên cứu về tính tự tin của trẻ, nhà tâm lý học nổi tiếng người Canada Jan Dargatz cho rằng: Bí quyết quan trọng nhất trong việc nuôi dạy trẻ là làm cho trẻ có được tính tự tin.
Đứa trẻ tự tin là đứa trẻ sau này sẽ đi bằng chính đôi chân, nghị lực và trí tuệ của nó. Đứa trẻ tự tin sẽ làm nhẹ đi rất nhiều nỗ lực dạy dỗ của gia đình, nhà trường và xã hội. Khi trẻ tự tin sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội thành đạt trong cuộc sống. Tiến sĩ tâm lý học trẻ em Richard woolfson cũng chỉ rõ: Tạo cho trẻ sự tự tin là việc làm vô cùng quan trọng.
Nếu trẻ cảm thấy tự tin chúng sẽ có can đảm khám phá mọi thế giới xung quanh dù chỉ một lần. Đây là một điều đáng quan tâm khi trẻ lên 4 - 5 tuổi, trẻ có những trải nghiệm mới về vui chơi và học tập. Trẻ cần có sự tự tin để ứng phó giải quyết những trải nghiệm đó. Do vậy tự tin rất quan trọng cho con người nói chung và đặc biệt cho trẻ nói riêng.
Như vậy, điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu tính tự tin của các nhà tâm lý giáo dục học nước ngoài cho thấy: Vấn đề tính tự tin và giáo dục tính tự tin đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và đưa ra quan điểm của mình. Những công trình nghiên cứu trên đã phần nào cho thấy vai trò quan trọng của tính tự tin đối với 6 con người. Do vậy cần phải giáo dục tính tự tin cho con người nói chung và trẻ em nói riêng. Một số nghiên cứu về giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, những năm gần đây vấn đề về tính tự tin cũng được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm nghiên cứu Tính tự tin là cơ sở tâm lý của sự phát triển và thành công của đời người, lại là chất xúc tác của năng lực và ý chí. Với số đông người, trí lực bình thường cộng thêm tính tự tin cao là có thể đạt được thành công. Đinh Trí Viễn – Đông Phương Tri cho rằng: Tự tin chính là một chiếc quyền trượng, một khi bạn có sự tự tin thì cách nhìn cuộc sống và nhìn vào chính bản thân bạn cũng sẽ thay đổi, khí chất sẽ càng ưu tú hơn, bạn sẽ càng lạc quan hơn. Như vậy, tính tự tin có tính định hướng cho cuộc đời của mỗi người.
Tác giả Hà Sơn trong cuốn "Hình thành lòng tự tin cho trẻ" và cuốn" Khai phá tiềm năng nâng cao khả năng can đảm cho trẻ" có viết: "Khi không có lòng tin, mọi việc chúng ta đều không thể làm được. Một người đạt được thành công to lớn trước tiên là bởi vì người đó có lòng tin. Cho nên tự tin là sức mạnh thần kỳ, chúng biến cái không thể thành cái có thể, biến cái có thể trở thành hiện thực. Ngược lại không có lòng tin sẽ làm cho điều có thể biến thành không thể, làm cho không thể khó trở thành tuyệt vọng".
" Sự tự tin của con cái không phải là thứ thiên bẩm, mà nó phải được nuôi dưỡng và bù đắp trong thực tiễn cuộc sống và trong học tập". [16] Như vậy, các nhà Tâm lý - Giáo dục học ở Việt Nam từ trước đến nay đã nghiên cứu bản chất, biểu hiện và biện pháp để giúp trẻ tự tin hơn trong cuộc sống. Họ khẳng định vị trí quan trọng của tính tự tin trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Do đó cần phải có những biện pháp nhằm giáo dục tính tự tin cho trẻ tuổi mầm non.
Những vấn đề lý luận cơ bản về tính tự tin và giáo dục tính tự tin cho trẻ 4 - 5 tuổi 1. Khái niệm về "Tính tự tin" Sự tự tin có nghĩa là tin tưởng vào bản thân hoàn toàn, biết được sự quan trọng và giá trị của mình. Điều này không phải mù quáng tin tưởng vào bản thân. Điều cơ bản của lòng tự tin là cảm nhận được năng lực, giá trị và được yêu cùng trách nhiệm và sự công nhận.
Thông thường, trong mỗi người đều có sự tự tin nhất định kể cả ở người trưởng thành và trẻ em. Sự tự tin bắt đầu hình thành ngay từ lúc mới sinh ra và tiếp tục theo trẻ lớn lên. Mặc dù sự tự tin ở các độ tuổi không có gì khác biệt nhưng cách rèn luyện sự tự tin cho trẻ ở các giai đoạn, lứa tuổi sẽ có nhiều khác biệt. Bởi sự tự tin không phải là một tố chất có sẵn mà sẽ hình thành dần trong cuộc sống của con người.
Sự tự tin có thể giúp tạo nên giá trị cho bản thân mỗi người. Nhưng trong cuộc sống có thể vì một lý do nào đó, một người cảm thấy kém tự tin. Ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu riêng, không ai hoàn hảo, vì vậy bạn cần nhận biết được giá trị và điểm mạnh riêng của mình mới có thể lấy được sự tự tin cho bản thân. Theo đại từ điển Tiếng Việt do Bộ Giáo dục và Đào tạo – Trung tâm ngôn ngữ văn học Việt Nam – Nguyễn Như Ý chủ biên, tính tự tin được định nghĩa là: Tin vào bản thân mình: một người tự tin nói một cách tự tin.
[23] Aldrele nói: "Tự tin ở đây chính là tin vào bản thân mình hoặc coi trọng bản thân mình".[26] Theo Trí Đức viết “Tính tự tin là biết tin tưởng vào khả năng phẩm chất của mình, tin tưởng vào khả năng to lớn và phẩm chất tốt đẹp của mình có thể đạt được qua rèn luyện trong học tập và lao động. Tự tin phải đi đôi với nỗ lực, bền bỉ và kiên trì phấn đấu… Tự tin là dám chịu trách nhiệm về việc mình làm và chủ động tìm cách khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn".[3] Nguyễn Ánh Tuyết có viết: Tính tự tin khác với tự cao, tự đại, đánh giá quá cao sự thực, năng lực và phẩm chất của mình luôn luôn cho mình là tài giỏi hơn người và coi thường mọi người.[19] Trong luận văn thạc sĩ Phạm Thị Huyên với đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động góc" có viết: "Tự tin là sự kết tinh những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với mình và ý chí của mình, là 8 sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành động.