CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Một số công trình nghiên cứu trên thế giới Xâm hại tình dục trẻ em là vấn nạn không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Việc trẻ bị xâm hại tình dục để lại những hậu quả khôn lường và nghiêm trọng cả về thể xác lẫn tinh thần của trẻ. Nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức, các chính phủ, các quốc gia trên thế giới đã quan tâm, nghiên cứu, điều tra về xâm hại tình dục trẻ em.
Cuốn sách “Lạm dụng tình dục trẻ em- Nỗi phẫn uất của cộng đồng” của tác giả Ron O’ Grady- một chuyên gia của tổ chức ECPAT (Tổ chức chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục, được thành lập vào những năm 1990 ở Thái Lan) đã miêu tả một thực tế rằng hàng nghìn trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên khắp châu Á đang là nạn nhân của nạn lạm dụng tình dục. Những câu chuyện được Ron O’ Grady nói tới trong cuốn sách của mình là những câu chuyện về những đứa trẻ nghèo, bị lừa bán vào các ổ mại dâm, bị ép bán thân, trở thành gái mại dâm trong những “sex tour”, trở thành món đồ chơi trong những cuộc vui xác thịt của người lớn. Cuốn sách đã gửi tới thông điệp nhằm kêu gọi sự quan tâm và huy động sự nỗ lực của toàn xã hội cho cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn và diệt trừ một tệ nạn đang có nguy cơ biến thành thảm họa lạm dụng tình dục trẻ em [9; tr16]. Nghiên cứu của tác giả Finkelhor vào năm 2009 về vấn đề này đã đưa ra nhận định rằng, xâm hại tình dục trẻ em bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới 17 tuổi là nạn nhân.
Trong nghiên cứu của mình, Finkelhor đã kiểm tra, khảo sát các sáng kiến nhằm ngăn ngừa lạm dụng tình dục trẻ em, tập chung vào hai chiến lược chính, bao gồm quản lý người phạm tội và các chương trình giáo dục trong nhà trường. Ông giải thích rằng các chương trình giáo dục ở nhà trường dạy cho trẻ những kỹ năng như làm thế nào để xác định tình huống nguy hiểm, từ chối sự tiếp cận của kẻ hành hung và huy động sự trợ giúp. Finkellhor cũng chỉ ra bằng chứng rằng sự hỗ trợ các chiến lược tư vấn cho người phạm tội, đặc biệt là người chưa thành niên sẽ giảm bớt sự tái phạm và ngăn ngừa những hệ quả tiêu cực về sức khỏe tâm thần và cuộc sống sau này. 12 Một số nghiên cứu khác lại cho rằng xâm hại tình dục trẻ em xảy ra khi người lớn hoặc một người nhiểu tuổi hơn hoặc một người có quyền lực hơn giao tiếp với trẻ em về tình dục để cảm thấy thỏa mãn về tình dục (Danya Glaser and Stephen Frosh, 1993; S.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam Hiện nay, vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam đang trở thành chủ đề nhức nhối, số lượng lớn trẻ bị xâm hại mỗi năm đang trở thành hồi chuông cảnh báo cho sự biến chất, suy đồi đạo đức xã hội và gây lên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.
Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về vấn đề này. Với khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi đề cập tới một vài nghiên cứu sau: “Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục”- một nghiên cứu của tác giả Dương Tuyết Miên ( giảng viên khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội) được đăng tải trên Đặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích những tổn hại tâm lý mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân của tội này. Đó không chỉ đơn thuần là thiệt hại về thể chất mà còn là những thiệt hại về tinh thần, bị sốc, đau đớn về thể xác, bị lây nhiễm các bệnh về tình dục trong đó có bệnh HIV hoặc có thai.
Những hậu quả này không chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn mà có thể tồn tại trong một thời gian dài sau khi vụ hiếp dâm xảy ra. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục như: Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về việc quy định biện pháp xử lý tội hiếp dâm trong bộ luật hình sự cũng như việc xét xử tội này; thành lập những trung tâm tư vấn về tâm lý để giúp cho người phụ nữ (là nạn nhân của tội hiếp dâm) có thể tâm sự để trút gánh nặng tâm lý, vơi bớt nỗi đau đè nặng trong lòng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công dân;… [6]. Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta thời kỳ 2000- 2010” của các chuyên gia thuộc Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. Đề tài đã đưa ra những nhận định, đánh giá và quan điểm về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong nước, từ đó xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục thời kỳ 2000- 2010.
Các chuyên gia của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội đã phác họa vắn tắt thực trạng tình hình trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta cũng như thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục; đề xuất một số 13 chiến lược tổng hợp với một tiêu tổng quát: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trong mỗi gia đình và toàn xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục,…” [8, tr 18]. Đề tài “Nghiên cứu tình hình bị lạm dụng tình dục ở học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang” của Phạm Trung Thông và Võ Văn Thắng báo cáo trong Hội nghị khoa học bện viện quận Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh nhằm xác định tỷ lệ học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang bị lạm dụng tình dục. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ trẻ em học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang bị lạm dụng tình dục chiếm tỷ lệ khá cao 36,19% [11].
Luận văn “Các tội phạm xâm hại tình dục trong Luật hình sự Việt Nam” của Phan Thị Lương Hiền. Luận văn đã chỉ ra những tồn tại và hạn chế của thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, bao gồm các nhóm giải pháp: nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách, pháp luật; nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện; nhóm giải pháp cụ thể [10]. Luận văn “Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên” của Võ Nguyễn Minh Hoàng (năm 2107). Luận văn khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng, thực trạng phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên, nhận thấy vấn đề cần quan tâm nhất trong việc phối hợp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em của các lực lượng cộng đồng chính là việc trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em cũng như cho cả cộng đồng và các hình thức, cơ chế phối hợp các lực lượng cộng đồng chặt chẽ hơn trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em [2].
Từ việc khái quát những nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, nghiên cứu về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em đã được nhiều tác giả, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em trong nhà trường tiểu học còn chưa có. Vì vậy, việc nghiên 14 cứu về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học là có ý nghĩa và tính cấp thiết cao.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Trẻ em Theo điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (United Nations Convention on the rights of the child- CRC) có quy định như sau: “Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13]. Căn cứ vào khái niệm trẻ em trong công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, các quốc gia dựa trên điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội cũng như khả năng của nền kinh tế để đưa ra những quy định của mình về giới hạn độ tuổi của trẻ.
Tại Trung Quốc, theo điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi. Theo điều 1 Luật Liên bang Nga số 124- FZ ngày 21/7/1998 (sửa đổi): Trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18 [5]. Ở Việt Nam, theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, quy định về tuổi của trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam đã có độ chênh tới 2 tuổi so với Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Vào ngày 5/4/2016, tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khóa XIII, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được đổi tên thành Luật trẻ em. Luật có nhiều điểm đổi mới tích cực, dễ hiểu, dễ tiếp cận và phản ánh đầy đủ hơn nội dung và phạm vi của Luật; tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Luật trẻ em 2016 tiếp tục khẳng định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” [9] và không giới hạn trẻ em phải là công dân Việt Nam, đối tượng áp dụng của luật bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.