CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Năng lực và Phát triển năng lực 1.1 Năng lực Trong TV cũng như Tiếng Anh NL được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong các tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Trong từ điển TV NL có nghĩa gốc chung là: a, Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
b, Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Ngoài ra, NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Nhưng khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được ở nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác. Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu ngắn gọn: NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp đó.
Weinert: NL được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới những mục đích cụ thể. Coolahan, NL được xem như là những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người phát triển thông qua thực hành giáo dục. Tiếp thu quan niệm về NL của các nước phát triển, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2017) đã xác định: “ NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ có tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công 8 một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Có hai loại NL lớn: + NL cốt lõi: là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả.
+ NL đặc biệt là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người. Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, NL cốt lõi gồm NL chung và NL chuyên môn. + NL chung là NL được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển như: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, năng lự giải quyết vấn đề sáng tạo. + NL chuyên môn là NL được hình thành, phát triển chủ yểu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất.Phát triển năng lực Giúp người đọc phát huy tất cả các loại NL nói trên và những những kiến thức kĩ năng trong quá học tập cũng như trong đời sống thường ngày một cách linh hoạt và nhạy bén, thích ứng nhanh với sự thay dổi của thời đại.
Đặc biệt là những cải cách trong giáo dục sắp tới cùng những bước ngoặt mới ở tương lai mà con người cần phải có, những phẩm chất tốt đẹp và NL cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. Đọc hiểu và Năng lực đọc hiểu 1. Đọc Quan niệm thứ nhất, đọc nghĩa thứ nhất là phát thành lời những điều đã được viết ra, theo đúng trình tự; nghĩa thứ hai là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu đó. 9 Quan niệm thứ hai, đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Tác giả Lê Phương Nga cho rằng định nghĩa này rất phù hợp với dạy đọc tiểu học song trên thực tế nếu HS chỉ đọc thành tiếng khó mà hiểu được điều đang đọc. Vì vậy, hai quá trình được trình bày trong định nghĩa không hoàn toàn tương ứng với hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm. Trong phạm vi đề tài này, tôi quan niệm đọc là hoạt động tiếp nhận và thông hiểu các kí hiệu ngôn ngữ, những điều đã được viết ra. Trên cơ sở đó có thể chuyển thành lời nói có âm thanh (đọc thành tiếng) hoặc chỉ chuyển thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (đọc thầm).
Hiểu Quan niệm thứ nhất, hiểu là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì bằng sự vận dụng trí tuệ. Quan niệm thứ hai, hiểu (comprehension) trong ngữ âm học, tâm lí học là NL hiểu và giải thích nghĩa của ngôn ngữ, như trong việc luyện tập đọc hiểu. Theo quan niệm của chung tôi, trong phạm vi khóa luận, hiểu là quá trình vận dụng trí tuệ để nhận diện và giải thích các kí hiệu ngôn ngữ, trên cơ sở đó kết nối và đánh giá thông tin, vận dụng thông tin vào giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Đọc hiểu Quan niệm thứ nhất, đọc hiểu là khả năng nhận biết, tiếp thu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in kết hợp với những bối cảnh khác nhau.
Kĩ năng đọc hiểu (literacy) đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn. Quan niệm thứ hai, đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng, cũng như việc tham gia của một ai đó vào xã hội. 10 Quan niệm thứ ba, theo OECD, đọc hiểu được hiểu là giải mã (decoding), tiếp thu (comprehension) tư liệu, bao hàm cả việc hiểu (understanding), sử dụng (using) và phản hồi (reflecting) về những thông tin với những mục đích khác nhau. Kĩ thuật đọc hiểu yêu cầu đọc hiểu từ ngữ trong ngữ cảnh, đọc hiểu tính mạch lạc của văn bản cũng như nội dung văn bản như một thông điệp.
Trên cơ sở xem xét những quan điểm trên, trong phạm vi đề tài, chúng tôi quan niệm đọc hiểu là NL đọc văn bản đạt đến cấp độ hiểu và NL hiểu thông qua đọc văn bản và chia đọc hiểu văn bản ở Tiểu học thành hai cấp độ: Đối với HS lớp 1, 2, 3, đọc hiểu là khả năng nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, nội dung, ý nghĩa của văn bản); bước đầu kết nối, đánh giá thông tin (chủ yếu trong văn bản) và vận dụng những thông tin trong văn bản vào giải quyết những vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống. Đối với HS lớp 4, 5, đọc hiểu là khả năng nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, cấu trúc, các thông điệp chính và các chi tiết quan trọng, lập dàn ý, tóm tắt của văn bản); trên cơ sở đó kết nối, đánh giá thông tin (kết nối thông tin trong văn bản và bước đầu kết nối thông tin ngoài văn bản); vận dụng thông tin trong văn bản vào giải quyết một số vấn đề cụ thể trong học tập và đời sống. Năng lực đọc hiểu NL đọc hiểu là hoạt động HS vận dụng những kinh nghiệm sẵn có kết hợp với sự hướng dẫn của thầy (cô) giáo để nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, cấu trúc, các thông điệp chính và các chi tiết quan trọng, lập dàn ý, tóm tắt của văn bản); trên cơ sở đó kết nối, đánh giá thông tin (kết nối thông tin trong văn bản và bước đầu kết nối thông tin ngoài văn bản); vận dụng thông tin trong văn bản vào giải quyết một số vấn đề cụ thể trong học tập và đời sống. Từ đó, xác định dạy học đọc hiểu là quá trình GV tổ chức các hoạt động giúp HS vận dụng những kinh nghiệm sẵn có để nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, cấu trúc, các thông điệp chính và các chi tiết quan trọng, lập dàn ý, tóm tắt của văn bản); trên cơ sở đó kết nối, đánh giá thông tin 11 (kết nối thông tin trong văn bản và bước đầu kết nối thông tin ngoài văn bản); vận dụng thông tin trong văn bản vào giải quyết một số vấn đề cụ thể trong học tập và đời sống.
Dạy học Phát triển năng lực Từ những năm 90 của thế kỉ trước, khi so sánh quốc tế về chương trình giáo dục phổ thông, người ta thường nêu lên hai cách tiếp cận chính: tiếp cận nội dung hoặc chủ đề (chương trình theo nội dung) và tiếp cận kết quả đầu ra (chương trình theo kết quả). Chương trình theo nội dung là chương trình tập trung xác định và nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực, môn học nào nào. Tức là tập trung trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS cần biết những gì? Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào cấu trúc nội dung học vấn của một khoa học bộ môn ở bậc Đại học để thu nhỏ lại cho cấp học phổ thông nên thường mang tính “ hàn lâm” nặng về lí thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú ý đến các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học. Chương trình theo kết quả đầu ra như NIER (1999) đã xác định là cách tiếp cận nêu rõ kết quả, những khả năng hoặc kĩ năng mà HS mong muốn đạt được vào mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể, chương trình này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? Ở các nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kì, Malaysia… khi thiết kế chương trình giáo dục đều kết hợp hai cách tiếp cận này.
Ở các nước New Zealand, Australia và Thái Lan chủ yếu sử dụng chương trình theo kết quả đầu ra. Trong đó Indonesia, Cộng hòa Fiji và Việt Nam lại chủ yếu sử dụng chương trình theo nội dung.