CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 1 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp đã được các nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau. Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có điều kiện đề cập một cách hệ thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong giao tiếp mà chỉ trình bày một cách tổng quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài. Những nghiên cứu ở ngoài nước Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX bà Bianka Zazzo cùng với 12 cộng sự là chuyên gia cao cấp về tâm lý, y khoa và giáo dục của bà thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của đại học Paris trong 10 công trình nghiên cứu với: “Bước chuyển lớn từ mẫu giáo lên lớp 1” tác giả đã chỉ ra khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là sự “thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để là sự chuyển dạng hoạt động chủ đạo” [24].
Mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, hoạt động vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tùy hứng cá nhân nặng hơn tính chỉ đạo của giáo viên. Bước sang lớp 1 hoạt động chủ đạo, học sinh phải nghiêm chỉnh chấp hành theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc của lớp học, đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm vấn đề khó khăn của học sinh lớp 1 ở nước Pháp. Công trình của bà ít giải quyết vấn đề lý luận mà nhằm vào giải quyết mặt thực tiễn của vấn đề. Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa người với người nhằm truyền đạt, lĩnh hội tri thức, trao đổi, chia sẻ tình cảm với nhau.
Chính vì vậy, vấn đề giao tiếp được đề cập từ rất lâu. Đến thế kỷ XX, giao tiếp đã được các nhà nghiên cứu với tư cách như là một khoa học ở nhiều góc độ khác nhau.Meet (1863- 1931) nhà tâm lý học và triết học người Mỹ đã đưa ra thuyết quan hệ tượng trưng. Tác giả khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của loài người trong cộng đồng, nhấn mạnh các yếu tố tác động qua lại trong giao tiếp. 5 Nghiên cứu vấn đề KKTL trong giao tiếp của trẻ đầu lớp 1, nổi bật lên một số tác giả tiêu biểu như sau: Trong công trình nghiên cứu của G.Anctrecva, tác giả đã đề cập đến những khó khăn tâm lý trong quá trình giao tiếp.
Theo tác giả, trong quá trình giao tiếp, con người bắt gặp một số bức rào cản tâm lý. Những trở ngại tâm lý đó có thể nảy sinh do sự bất đồng ngôn ngữ, do sự khác biệt về xã hội, chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp, do những đặc điểm tâm lý cá nhân của những người tham gia giao tiếp. Công trình nghiên cứu này của G. Anctrecva chủ yếu đi vào lý luận về khó khăn tâm lý trong lĩnh vực giao tiếp trên khách thể nghiên cứu là người lớn Trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” tác giả A.Petrovxki đã đưa ra những biến đổi về mặt sinh lý trong cơ thể trẻ 6 tuổi.
Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến những biến đổi tâm lý của trẻ lớp 1 thành 3 loại: + Thứ nhất: Trẻ phải làm quen với chế độ học tập mới + Thứ hai: Trẻ phải đối mặt với những thay đổi về tính chất của các mối quan hệ: quan hệ với cô giáo, với gia đình và với bạn bè + Thứ ba: Trẻ mất dần đi với những hứng thú học tập ban đầu và uể oải, thờ ơ với việc học. Có thể gọi là sự “vỡ mộng” của trẻ [18]. Trong tác phẩm này, A. Petrovxki cũng đã đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn, ảnh hưởng của những khó khăn này đến đời sống của trẻ và đề xuất một số biện pháp để giải quyết khó khăn cho trẻ.
Việc phân tích trên cho thấy các tác phẩm và các công trình nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề khó khăn tâm lý tong giao tiếp của HS lớp 1 chủ yếu đi vào nghiên cứu lý luận về khó khăn tâm lý, thực tiễn ít hoặc là chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập. Nhà tâm lý học Debesse Maurice, trong công trình nghiên cứu KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 đã chỉ ra rằng, đứng trước ngưỡng cửa lớp 1, trẻ em gặp rất nhiều KKTL. Điều này đã ảnh hưởng tới sự thích ứng với hoạt động giao tiếp của trẻ, làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả học tập không cao [14]. Nghiên cứu của C.Sukina đề cập đến vấn đề thích ứng của học sinh lớp 1.
Bà cho rằng, học sinh lớp 1 có KKTL khi bước vào môi trường học tập mới, mức độ thích ứng thể hiện ở 3 mức khác nhau: cao, trung bình và thấp. Và cũng chính những tác động không thuận lợi của gia đình và nhà trường tạo ra KKTL cho trẻ lớp 1. Cụ thể là: 6 + Trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học + Trẻ không thỏa mãn trong giao tiếp với người lớn + Trẻ tự nhận thức không đúng về bản thân trong nhóm bạn Tóm lại, các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về KKTL, KKTL trong giao tiếp của học sinh ít nhiều đã chỉ ra được những vấn đề lý luận về bản chất của KKTL, nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó; đồng thời các tác giả cũng chỉ ra được ảnh hưởng của nó tới hoạt động học tập của học sinh. Tuy nhiên, so với các lĩnh vực khác, KKTL trong giao tiếp còn ít được các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu.
Vì vậy, việc nghiên cứu KKTL trong giao tiếp của học sinh đầu lớp 1 phải được các nhà Tâm lý học nghiên cứu nhiều hơn và toàn diện hơn. Những nghiên cứu ở Việt Nam Từ trước đến nay, khó khăn tâm lý đặc biệt là khó khăn tâm lý trong giao tiếp được các nhà tâm lý học, giáo dục học nghiên cứu chưa nhiều. Một số tác giả tiêu biểu như Trần Trọng Thủy, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Nhất, Phạm Thị Đức, Nguyễn Xuân Thức đã có một số bài viết đề cập đến vấn đề này. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, vấn đề KKTL, KKTL trong giao tiếp cũng được nhiều tác giả nghiên cứu.
Tiến sỹ Nguyễn Ánh Hồng cùng các đồng nghiệp đã nghiên cứu một số khó khăn trong giao tiếp ứng xử của học sinh theo thang đo Rutter. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ học sinh có khó khăn và các mức độ khó khăn trong giao tiếp ứng xử: khó khăn trong quan hệ bạn bè cùng lứa, khó khăn cảm xúc, khó khăn thích nghi, khó khăn ứng xử. Kết quả nghiên cứu còn chứng minh điều kiện gia đình, hoàn cảnh sống của học sinh ảnh hưởng đến khó khăn cảm xúc và khó khăn trong quan hệ bạn bè cùng lứa. Tác giả Cao Xuân Liễu nghiên cứu về một số KKTL của học sinh lớp 1 người dân tộc K'ho ở Lâm Đồng.
Đề tài đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của từng khó khăn: khó khăn trong giao tiếp với cô giáo, khó khăn về học tập, khó khăn về ngôn ngữ tới học sinh cũng như chỉ ra các nguyên nhân gây ra các khó khăn đó. Trong khi nghiên cứu về một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đưa ra kết luận: Trở ngại tâm lý trong giao tiếp là những đặc điểm tâm lý và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. Những trở ngại tâm lí trong giao tiếp được biểu hiện ở 3 mặt: nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi của 7 chủ thể giao tiếp. Bản chất của các trở ngại tâm lý này là sự không phù hợp giữa những đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Ở đây, tác giả còn nêu lên những nguyên nhân khách quan gây nên những trở ngại tâm lý và đề xuất một số biện pháp để giải quyết trở ngại này. Tác giả Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” cũng đã nêu lên những khó khăn tâm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Theo tác giả “trong quá trình lớn lên của trẻ em, có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này chuyển sang giai đoạn khác, trẻ em đòi hỏi phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách khá triệt để”; “Giữa những phương thức học tập ở mẫu giáo và lớp 1 có một sự biến động đột ngột đối với trẻ em, một bước ngoặt quan trọng đòi hỏi một sự thích nghi về nhiều mặt không dễ gì vượt qua. Đúng là một cửa ải phân chia hai cuộc sống khác nhau.” [16] Trẻ phải từ bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng vui nhộn ở mẫu giáo và phải khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc như: ngồi yên cả tiết học, tập trung nghe cô giảng bài, tập trung điều khiển mắt và tay, cố gắng nhớ cho hết những điều phải học và phải thực hiện những thao tác tư duy trìu tượng.
Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, giám đốc trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em thì 6 tuổi vào lớp 1, trẻ phải vượt qua một trong những “Nỗi khổ của con em” chúng ta. Ở đây tác giả đề cập đến một số “nỗi khổ” mà học sinh lớp 1 phải gánh chịu: + Phải tuân theo những nguyên tắc của lớp học. + Thường xuyên chịu sự kiểm tra, đánh giá của thầy cô, cha, mẹ + Phải đáp ứng được những kì vọng quá sức của cha mẹ + Phải học nhiều, chơi ít. Qua đây, tác giả cũng đã “hiến kế” để tháo gỡ khó khăn cho học sinh lớp 1 như tạo điều kiện vui chơi cho trẻ, tạo nên mối “thân tình” giữa giáo viên và học trò, tạo hứng thú cho trẻ trong việc học, tạo điều kiện kết bạn cho trẻ…[20] Nghiên cứu của Phạm Thị Đức, trong bài viết “Chuẩn bị tâm lý cho trẻ vào lớp 1” tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tâm lý của trẻ khi đi học như chưa quen với chế độ học tập, chưa có thói quen nắm các dữ kiện, câu hỏi của bài tập, yêu cầu của cô giáo trước khi bắt tay vào hành động: nhút nhát, mất bình tĩnh trước hoàn cảnh mới, chưa có động cơ học tập đúng đắn.