Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Dạy học là hoạt động chủ đạo của người thầy và tiếp thu, lĩnh hội tri thức là hoạt động của người trò. Trong dạy học, để người thầy truyền tải kiến thức một cách tốt nhất và người trò tiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi người thầy cần biết sử dụng PPDH phù hợp.
Nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước. Trong bài viết “Những cách giảng dạy và giáo dục của Khổng Tử”, tác giả Kim Cheng Patrick Low cho rằng: “Khổng Tử là người đề xuất Nho giáo với việc sử dụng PPTT để truyền đạt các quan điểm trong bài giảng của mình. Ông luôn tự coi mình là một người truyền đạt tri thức, truyền đạt những cái đã có tới người nghe. Ông thường sử dụng những câu chuyện cách ngôn chứ không giảng giải trực tiếp cách cư xử cho các môn đồ.
Cách dạy “gián tiếp” này được sử dụng rất nhiều trong các bài giảng của ông thông qua những lời ám chỉ, nói bóng gió và thậm chí là sự lặp thừa“ [20; tr. Mặc dù phương pháp được Khổng Tử sử dụng trong dạy học là phương pháp đối thoại gợi mở, nhưng để cung cấp kiến thức cho học trò, Khổng Tử đã sử dụng cách thức truyền đạt tri thức để thực hiện quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học. Tác giả Mariatte Denman trong bài “Phương pháp Socrates - sử dụng như thế nào trong lớp học viết về cuộc nói chuyện của giáo sư Khoa học chính trị 9 Rob Reich về PPDH” cho biết giáo sư Reich đã thừa nhận rằng: “Trong những thập kỉ gần đây, phương pháp Socrates là nền tảng của truyền thống sư phạm phương 10 Tây” và “Trong phương pháp Socrates, kinh nghiệm lớp học là một cuộc đối thoại được chia sẻ giữa giáo viên và học sinh trong đó cả hai có trách nhiệm thúc đẩy đối thoại thông qua thẩm vấn, các thầy được coi là lãnh đạo của cuộc đối thoại” [23; tr. Để thực hiện được phương pháp đối thoại, Socrates cũng đã sử dụng cách thức truyền thụ kiến thức kinh nghiệm của mình cho các môn đệ.
Đối với PPTQ, đầu tiên thuật ngữ này được sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai nhất của Sôcrates và Khổng Tử để con người nhận thức được thế giới. Bởi lẽ theo họ “thế giới hòa tan trong ta và con người có thể nhận thức chính bản thân họ”. Mối quan tâm của Khổng Tử đó là tri thức kinh nghiệm không có sẵn trong mỗi con người, nó được hình thành trong mỗi con người thông qua học tập. Ông khẳng định: “Tính người ta vốn gần nhau”, Khổng Tử rất coi trọng nhận thức cảm tính, con người nhận thức được thế giới phải dựa vào kết quả quan sát các sự vật trực quan và hai ông đã rút ra được nội dung dạy học cho mình trong quá trình giảng dạy.
Từ đó “phương pháp trực quan gắn liền với dạy học”.7] Đầu thế kỉ XVII, nhà giáo dục nổi tiếng người Tiệp Khắc J. Kômenski (1592 - 1670) đã đưa ra nguyên tắc dạy học, lý luận dạy học và phương pháp dạy học của quá trình nhận thức. Ông cho rằng: Kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó càng xác thực. Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người khác quan sát, chứng minh mà phải căn cứ vào những cái chính mắt mình nhìn, chính tai mình nghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ, … Theo ông để có tri thức chắc chắn, nhất định phải dùng phương pháp trực quan.
Ông được đánh giá là người đầu tiên trong lịch sử dùng trực quan để giải thích từ vựng và được xem là người đặt nền móng cho lý luận dạy học hiện đại. Quan điểm của Kômenski sau này được các nhà giáo dục như Pestalossi (1746-1827), Clsinki (1824-1870) và nhiều người khác tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn về PPTQ sử dụng trong dạy học. Nhìn chung các ông đều khẳng định 11 vai trò to lớn của dạy học bằng PPTQ thậm chí còn tuyệt đối hóa PPDH này coi nó là “nguyên tắc cao nhất”, là “quy tắc vàng” trong dạy học. Cùng với quan điểm về PPTQ, đến thời cận đại và hiện đại, các nhà khoa học giáo dục đã đưa ra được khái niệm về PPTT trên các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Trong công trình nghiên cứu PPTT trong bài giảng, các tác giả Waugh, G., cho rằng: “Thuyết trình là một phương pháp giảng dạy mà ở đó giảng viên (GV) đàm phán, thuyết phục, sinh viên (SV) không thảo luận thông tin truyền đạt trong bài thuyết trình hoặc đặt câu hỏi về bài giảng bằng lời nói; là một chiều độc thoại, là bài giảng thẳng không có hoạt động hay lời nói có sự tham gia của SV” [36; tr.
Tác giả Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin - coi việc sử dụng PPTT là “hệ thống ban phát kiến thức”, là quá trình chuyển tải thông tin từ thầy sang trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo [16; tr. Về cơ bản, các tác giả trên đã có chung quan điểm khi nhận định về PPTT, đó là tính truyền thụ một chiều, giáo viên sử dụng lời nói để truyền đạt thông tin, trong đó sinh viên có trách nhiệm ngồi nghe và ghi chép. Từ những nghiên cứu trên đây đã cho thấy, việc sử dụng PPTT và PPTQ đã được các nhà giáo dục học quan tâm sử dụng nhiều trong quá trình dạy học nhằm truyền thụ tri thức một cách có hiệu quả đến người học.
Các công trình nghiên cứu trong nước Ở nước ta, PPTT cũng được các nhà khoa học giáo dục quan tâm: Trong cuốn Lí luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH (dịch giả Nguyễn Văn Cường) đã viết: “Thuyết trình là thông báo của giáo viên và việc tiếp thu mang tính tiếp nhận thụ động của người học, thông qua đó người học tiếp nhận thông tin, xử lí về mặt nhận thức và phát triển các quá trình trí nhớ” [4; tr. Trong cuốn PPDH truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy Tuyên khẳng định: “Thuyết trình là phương pháp thông tin một chiều. Giáo 12 viên nêu ra các ý tưởng hay khái niệm, phát triển, đánh giá và cuối cùng tóm tắt các ý chính đã nêu trong khi học sinh ngồi nghe và ghi chép” [32; tr. Trong cuốn Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa, tác giả Trần Bá Hoành quan niệm: “Thuyết trình là trình bày rõ ràng bằng lời trước nhiều người một vấn đề gì đó” [16; tr.
Các quan điểm này cho thấy các nhà khoa học ở nước ta cũng đã đồng quan điểm với các nhà khoa học trên thế giới khi coi PPTT là phương pháp truyền đạt thông tin một chiều của người dạy, người học lĩnh hội thông tin, nghe và ghi chép. Vào những năm đầu thế kỷ XX trở lại đây, nền giáo dục trên thế giới và Việt Nam xuất hiện những quan điểm dạy học mới, bao gồm nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Trong Thông báo kết luận của Bộ Chính trị số 242- TB/TW, ngày 15/4/2009 khẳng định: Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng cường thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành….
Nghị quyết 40/2000/QH10 đã khẳng định: Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học. Với phương tiện dạy học phù hợp sẽ hổ trợ tốt cho việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của người giáo viên, nhất là đối với phương pháp trực quan. Tác giả Lê Tràng Định (2003), Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học, giáo dục, số 54 cũng đã đề cập tới khái niệm, cách phân loại phương tiện trực quan khi sử dụng trong dạy học. Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ được ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học trực quan.
Tác giả Vũ Đình Bảy (chủ biên, 2017), Lí luận dạy học môn GDCD ở trường phổ thông đã nêu ra khái niệm, các hình thức trực quan trong dạy học GDCD ở phổ thông chỉ ra được ưu điểm, hạn chế của PPDH này. Tác giả khẳng định: “Sử dụng PPTQ trong dạy học phù hợp với con đường biện chứng của quá trình nhận thức, đó là 13 quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đi từ cụ thể đến trừu tượng” [1; tr. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu như các giáo trình Giáo dục học của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987) tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Giáo dục học đại cương của Phạm Viết Vượng (1996), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại của tác giả Thái Duy Tuyên (1999), Nxb Giáo dục, Hà Nội… Các cuốn sách này đều nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của PPTT và PPTQ trong dạy học. Tuy nhiên, PPDH nào khi sử dụng đều có ưu điểm và nhược điểm của nó, việc sử dụng kết hợp hai phương này trong dạy học sẽ góp phần khắc phục nhược điểm của từng PPDH đơn lẻ, phát huy được tính tích cực cho người học.
Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng kết hợp của PPTT với PPTQ trong dạy học như: “Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp trực quan trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần thế giới quan - phương pháp luận ở trường Đại học Lao động - Xã hội” của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), trường Đại học sư phạm Hà Nội; “Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trường THPT Nguyễn Tất Thành, Hà Nội” của tác giả Vũ Tiến Dũng (2012), trường Đại học sư phạm Hà Nội…. một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng nghiên cứu về sự kết hợp của hai phương pháp này trong dạy học.