Tổng quan luận án

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết tại Chile vào tháng 3 năm 2018 với sự tham gia của 11 quốc gia thành viên, bao phủ quy mô dân số 500 triệu người, đóng góp hơn 13,5% GDP toàn cầu và chiếm 14% tổng thương mại thế giới. Đây là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với mức độ tự do hóa tài chính cao, bao gồm 5 đặc trưng cơ bản: tiếp cận thị trường toàn diện, hiệp định khu vực toàn diện, giải quyết các vấn đề thương mại xuyên suốt, xử lý những vấn đề mới trong thương mại và tính chất hiệp định mở. Ngành ngân hàng giữ vai trò huyết mạch của nền kinh tế, vừa đóng vai trò trung gian phân bổ vốn, vừa chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ tiến trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo cam kết CPTPP. Thực tế này đòi hỏi hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) phải đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định để xây dựng chiến lược thích ứng phù hợp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ việc phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận giai đoạn trước năm 2016 khi CPTPP chưa ký kết, hệ thống NHTM VN đang tái cấu trúc nợ xấu và thí điểm Basel II; các nghiên cứu về CPTPP chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính tổng quát mà thiếu đo lường thực nghiệm lượng hóa đồng thời cả năng lực cạnh tranh lẫn mức độ ổn định; đồng thời thiếu vắng các mô hình đánh giá tác động từ sự hiện diện của các tổ chức tài chính nước ngoài đến hệ thống ngân hàng nội địa trong mối tương quan so sánh với 10 quốc gia thành viên CPTPP.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đo lường năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu.

Hệ thống mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Xác định thực trạng hoạt động của các NHTM VN và so sánh với các nước thành viên còn lại trong CPTPP giai đoạn 2010 – 2018.
  2. Đo lường năng lực cạnh tranh và chiều hướng tác động của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh của các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP.
  3. Đo lường mức độ ổn định và chiều hướng tác động của các yếu tố đến mức độ ổn định của các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP.
  4. Đo lường chiều hướng tác động của năng lực cạnh tranh đến ổn định ngân hàng trong bối cảnh tham gia CPTPP.
  5. Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP.
  6. Đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định ngân hàng trong bối cảnh tham gia CPTPP.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số tương ứng:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng kết quả hoạt động của các NHTM VN so với các nước thành viên trong CPTPP?
  • Câu hỏi 2: Đo lường năng lực cạnh tranh và chiều hướng tác động của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh của các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?
  • Câu số 3: Đo lường mức độ ổn định và chiều hướng tác động của các yếu tố đến mức độ ổn định của các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?
  • Câu số 4: Chiều hướng tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định của các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?
  • Câu số 5: Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?
  • Câu hỏi 6: Hàm ý chính sách nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?

Đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên 31 ngân hàng thương mại Việt Nam (chiếm 9.556.489 tỷ đồng, tương đương 99,78% tổng tài sản của 35 NHTM 100% vốn trong nước tại thời điểm 31/12/2018), 11 NHTM có vốn nước ngoài và hệ thống tài chính của 10 quốc gia thành viên CPTPP.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010 – 2018 (thời kỳ áp dụng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tái cấu trúc ngân hàng và hoàn tất đàm phán ký kết CPTPP), cập nhật một số chỉ tiêu đến quý III/2019.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung đo lường chỉ số Lerner, Z-score, phân tích hồi quy tác động của các yếu tố nội tại, yếu tố ngân hàng ngoại, yếu tố vĩ mô và phân tích mô hình SWOT.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các nhánh nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong nước cũng như quốc tế xoay quanh năng lực cạnh tranh, mức độ ổn định tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế:

Về đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng: Các công trình quốc tế chủ yếu vận dụng phương pháp Panzar và Rosse (1987) với chỉ số H, phương pháp chỉ số Lerner và phương pháp Boone. Nghiên cứu của Claessens (2001), Carbó, Humphrey và Maudos (2009), Berger và cộng sự (2009), Fungáčová và cộng sự (2013), Fu và cộng sự (2014) đã ứng dụng chỉ số Lerner để đo lường sức mạnh thị trường và áp lực cạnh tranh. Tại Việt Nam, tác giả ghi nhận các nghiên cứu trước đây từng dùng chỉ số H và Lerner, tuy nhiên chỉ số Lerner ngày càng phổ biến hơn nhờ tính khả thi trong thu thập dữ liệu và phản ánh sát thực trạng thị trường.

Về mức độ ổn định ngân hàng: Bắt đầu từ phương pháp phân tích tỷ lệ, phân tích đơn biến, đến mô hình chỉ số Z-Score của Edward I. Altman (1968) dùng để dự báo xác suất vỡ nợ, được mở rộng sang hệ thống ngân hàng kết hợp với các chỉ số như ROA, ROE, RARROA, RARROE. Các nghiên cứu của Gerard Caprio và Daniela Klingebiel (1996), Wassim Shahin và Elias El-Achkar (2016) đã phân tích sâu các cuộc khủng hoảng và tính mỏng manh tài chính khi tự do hóa.

Về mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định: Tồn tại hai luồng quan điểm trái chiều trong y văn học thuật, gồm quan điểm "cạnh tranh - ổn định" (competition-stability) và quan điểm "cạnh tranh - dễ tổn thương" (competition-fragility). Các nghiên cứu của Soedarmono, Berger và cộng sự kiểm định sự tương tác giữa sức mạnh định giá và rủi ro hoạt động của ngân hàng.

Về tác động của ngân hàng nước ngoài và các hiệp định thương mại: Các nghiên cứu của Baele (2004), Saab và Vacher (2007), Trần Thị Thu Hương (2018) chỉ ra hai luồng hiệu ứng chính từ sự hiện diện của định chế tài chính nước ngoài: hiệu ứng lan tỏa (giúp tăng mức sinh lời, giảm chi phí qua chuyển giao công nghệ/kinh nghiệm) và hiệu ứng cạnh tranh (làm giảm biên lợi nhuận và thị phần của ngân hàng nội địa).

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tích hợp đồng thời việc đo lường năng lực cạnh tranh (chỉ số Lerner) và độ ổn định (chỉ số Zscore) trên cùng một mẫu dữ liệu 31 NHTM VN trong khung thời gian 2010 – 2018; đồng thời đưa biến số phản ánh sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài (số lượng chi nhánh, tỷ lệ tổng tài sản) vào mô hình thực nghiệm và đối sánh đa chiều các chỉ tiêu tài chính vĩ mô của Việt Nam với 10 quốc gia thành viên CPTPP.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết kinh tế nền tảng:

  • Lý thuyết tự do hóa tài chính: Luận án phân tích sự đối lập giữa quan điểm trường phái Keynes (hệ thống tài chính đóng vai trò thụ động, chủ trương kiểm soát tài chính và tiết kiệm bắt buộc qua lạm phát) với lý thuyết kìm hãm tài chính và tự do hóa tài chính của McKinnon (1973) và Shaw (1973, 2004). McKinnon và Shaw cho rằng việc kìm hãm lãi suất làm méo mó phân bổ nguồn lực; tự do hóa tài chính giúp kích thích tiết kiệm, gia tăng đầu tư và tăng trưởng kinh tế dài hạn (Robert G. King và Ross Levine, 1993). Đồng thời, luận án cũng xem xét quan điểm trường phái Tân cổ điển của Stiglitz về sự can thiệp có chọn lọc của nhà nước để ngăn ngừa tổn thương hệ thống.
  • Các nội dung hội nhập quốc tế ngành ngân hàng: Bao gồm tự do hóa lãi suất, tự do hóa cơ chế tín dụng, tự do hóa tỷ giá hối đoái, tự do hóa quản lý ngoại hối và luồng vốn quốc tế, cùng việc mở cửa thị trường cho các định chế tài chính nước ngoài.
  • Lý thuyết cạnh tranh: Hệ thống hóa từ lý thuyết cạnh tranh cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill, Karl Marx về phân phối giá trị thặng dư), lý thuyết tân cổ điển (W. Jevons, C. Menger, E. Bohm-Bawerk, F. von Wieser) đến lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1980, 1996, 1998) và định nghĩa của Paul Samuelson, William Nordhaus (1985).
  • Khung phân tích mức độ an toàn và hiệu quả: Ứng dụng khung đánh giá CAMELS và các chỉ tiêu chuẩn mực của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh dữ liệu vĩ mô và vi mô giữa hệ thống NHTM VN với 10 nước thành viên CPTPP; vận dụng ma trận SWOT để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
  • Phương pháp định lượng:
    • Đo lường năng lực cạnh tranh thông qua chỉ số Lerner (tỷ lệ chênh lệch giữa giá đầu ra và chi phí biên trên giá đầu ra).
    • Đo lường mức độ ổn định tài chính thông qua chỉ số Z-score (khoảng cách đến trạng thái phá sản, tính toán dựa trên tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR/Equity ratio và độ lệch chuẩn của ROA).
    • Kỹ thuật kinh tế lượng: Xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel data) không cân bằng cho 31 NHTM VN, thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình (POLS, FEM, REM), kiểm định khuyết tật mô hình (tự tương quan, phương sai sai số thay đổi, nội sinh) và xử lý ước lượng trên phần mềm Stata 14.0.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010 – 2018 từ:

  • Báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất, báo cáo thường niên, tài liệu đại hội đồng cổ đông thường niên của 31 NHTM Việt Nam.
  • Cơ sở dữ liệu tài chính ngân hàng quốc tế Bankscope.
  • Báo cáo thường niên và số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Dữ liệu kinh tế vĩ mô từ World Economic Outlook (WEO) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Chương 1 thiết lập tổng thể đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày bối cảnh kinh tế toàn cầu và tiến trình đàm phán ký kết hiệp định CPTPP vào tháng 3/2018 với 11 nước thành viên (chiếm 13,5% GDP toàn cầu). Tác giả phân tích 5 đặc trưng cơ bản của CPTPP và mức độ cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, khẳng định tính cấp thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Chương này xác định rõ 4 khoảng trống nghiên cứu (thời gian/không gian, phương pháp kết hợp, yếu tố ngân hàng ngoại, so sánh nội khối CPTPP), làm rõ mục tiêu tổng quát, 6 mục tiêu cụ thể, 6 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi 31 NHTM VN giai đoạn 2010 – 2018.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận cho luận án thông qua việc làm rõ các khái niệm: hội nhập quốc tế, tự do hóa tài chính, cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Tác giả đối chiếu các trường phái kinh tế về tự do hóa tài chính (Keynes, McKinnon – Shaw, Tân cổ điển của Stiglitz), phân tích 5 trụ cột hội nhập ngân hàng (lãi suất, tín dụng, tỷ giá, quản lý ngoại hối, mở cửa thị trường) và các học thuyết cạnh tranh từ cổ điển đến hiện đại (Adam Smith, Karl Marx, Michael Porter). Đồng thời, chương 2 tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về đo lường chỉ số Lerner, Z-score, tác động của sự hiện diện ngân hàng nước ngoài qua hiệu ứng lan tỏa và cạnh tranh, làm cơ sở hình thành các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, nguồn dữ liệu bảng không cân bằng của 31 NHTM VN và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2010 – 2018. Tác giả thiết lập công thức xác định chỉ số Lerner để đo lường sức mạnh thị trường và chỉ số Z-score (cùng biến thể ZscoreMH2) để đo lường mức độ an toàn ổn định. Chương 3 xây dựng 3 mô hình hồi quy thực nghiệm chính cùng bảng mô tả các biến giải thích (quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tổng tài sản, quy mô tín dụng, tốc độ tăng trưởng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô huy động vốn, tỷ lệ hiện diện/tổng tài sản của ngân hàng nước ngoài, lạm phát, tăng trưởng GDP) và thiết lập các kỳ vọng dấu tương quan ban đầu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp bức tranh thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM VN giai đoạn 2010 – 2018 và so sánh với 10 quốc gia thành viên CPTPP qua các chỉ tiêu: năng lực vốn, hệ số an toàn vốn (CAR), tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), biên lãi thuần (NIM), tỷ lệ nợ xấu, tỷ suất ROA, ROE, tỷ lệ tiền rộng/GDP, tỷ lệ tín dụng tiêu dùng/GDP, chiều sâu thông tin tín dụng, mạng lưới chi nhánh và mật độ ATM/POS.

Kết quả ước lượng kinh tế lượng trên Stata 14.0 thể hiện các phát hiện cụ thể:

  • Xu hướng vận động: Chỉ số Lerner và Z-score bình quân của 31 NHTM VN có xu hướng gia tăng trong những năm cuối của giai đoạn nghiên cứu, phản ánh năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định được cải thiện.
  • Tác động của cạnh tranh đến ổn định: Năng lực cạnh tranh (đo bằng chỉ số Lerner) có tác động tích cực đến mức độ ổn định ngân hàng (Z-score), kết quả này ủng hộ quan điểm "cạnh tranh - dễ tổn thương" (sức mạnh thị trường cao hơn giúp ngân hàng gia tăng bộ đệm an toàn).
  • Chiều hướng tác động của các nhân tố đến mô hình nghiên cứu:
Biến số giải thích Tác động đến Mức độ ổn định (Z-score) Tác động đến Năng lực cạnh tranh (Lerner)
Năng lực cạnh tranh năm trước (Lerner trễ) — Tích cực (+)
Quy mô vốn chủ sở hữu Tích cực (+) Tích cực (+)
Quy mô ngân hàng (Tổng tài sản) Tích cực (+) Tích cực (+)
Quy mô tín dụng Tích cực (+) Tích cực (+)
Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản Tích cực (+) Tích cực (+)
Chỉ số đa dạng hóa thu nhập Tích cực (+) Tích cực (+)
Hiện diện/Tài sản của tổ chức tài chính nước ngoài Tích cực (+) Tích cực (+)
Tỷ lệ lạm phát Tích cực (+) Tích cực (+)
Tốc độ tăng trưởng GDP Tích cực (+) Tiêu cực (-)
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Tiêu cực (-) Tiêu cực (-)
Quy mô huy động vốn Tiêu cực (-) Tiêu cực (-)

Chương 4 cũng tổng hợp ma trận SWOT:

  • Điểm mạnh: Mạng lưới hoạt động nội địa rộng, am hiểu khách hàng trong nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao.
  • Điểm yếu: Quy mô vốn tự có nhỏ so với các ngân hàng trong khối CPTPP, tỷ lệ nợ xấu còn tiềm ẩn rủi ro, hệ số CAR tiệm cận mức tối thiểu và chịu áp lực tuân thủ Basel II, thu nhập còn phụ thuộc nhiều vào tín dụng.
  • Cơ hội: Tiếp cận công nghệ hiện đại, thúc đẩy thương mại - đầu tư FDI, mở rộng phát triển các dịch vụ tài chính mới (tư vấn, phái sinh, quản lý danh mục theo cam kết CPTPP).
  • Thách thức: Áp lực cạnh tranh gay gắt từ các định chế tài chính quốc tế có tiềm lực tài chính lớn, nguy cơ mất thị phần dịch vụ cao cấp và biến động vĩ mô khu vực.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu chính và đề xuất hệ thống 7 nhóm hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố ổn định cho NHTM VN trong bối cảnh thực thi CPTPP:

  1. Nâng cao năng lực tài chính: Tăng vốn điều lệ, củng cố vốn chủ sở hữu, nâng cao hệ số CAR đáp ứng chuẩn mực Basel II.
  2. Xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả: Định vị phân khúc thị trường mục tiêu, phát triển sản phẩm dịch vụ chất lượng cao.
  3. Mở rộng đầu tư, phát triển dịch vụ ngân hàng: Đa dạng hóa nguồn thu phi tín dụng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng số.
  4. Mở rộng thị trường ra ngoài nước: Khai thác mạng lưới đối tác thương mại trong khối CPTPP để cung cấp dịch vụ tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế.
  5. Kịp thời ứng phó với biến động kinh tế vĩ mô: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và tỷ giá trước các cú sốc bên ngoài.
  6. Nâng cao năng lực quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực: Chuẩn hóa quy trình quản trị theo thông lệ quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
  7. Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý: Rà soát, điều chỉnh các quy định pháp luật trong nước tương thích với các cam kết tài chính quốc tế trong CPTPP.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự do hóa tài chính, năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng trong bối cảnh tham gia một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có phạm vi cam kết sâu rộng như CPTPP.
  • Luận án xây dựng khung mô hình thực nghiệm kết hợp đồng thời chỉ số Lerner và chỉ số Z-score dựa trên khung phân tích CAMELS và bộ chỉ tiêu IMF, bổ sung thêm biến số đo lường sự hiện diện của các định chế tài chính nước ngoài vào mô hình hồi quy.
  • Kết quả thực nghiệm cung cấp bằng chứng khoa học khẳng định năng lực cạnh tranh có tác động tích cực đến mức độ ổn định của các NHTM VN, ủng hộ cho quan điểm "cạnh tranh - dễ tổn thương" trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh so sánh toàn diện giữa hệ thống NHTM VN và 10 quốc gia thành viên CPTPP giai đoạn 2010 – 2018 trên nhiều chỉ tiêu tài chính vĩ mô và vi mô.
  • Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân tố nội tại (vốn, quy mô, tín dụng, tài sản, dự phòng, đa dạng hóa, huy động) và nhân tố bên ngoài (ngân hàng ngoại, lạm phát, GDP) đến năng lực cạnh tranh và độ ổn định.
  • Đưa ra phân tích ma trận SWOT xác thực và hệ thống 7 giải pháp chính sách có giá trị ứng dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ) và ban điều hành các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội, kiểm soát thách thức từ CPTPP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án tự xác định các giới hạn nghiên cứu dựa trên phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2010 – 2018 (với một số chỉ tiêu cập nhật đến quý III/2019), thời điểm hiệp định CPTPP mới bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam (tháng 1/2019), do đó chưa đo lường được toàn diện tác động dài hạn sau khi hiệp định đi vào thực thi thực tế nhiều năm.
  • Mẫu nghiên cứu gồm 31 NHTM Việt Nam dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp có cấu trúc bảng không cân bằng, một số chỉ tiêu chuyên sâu của các ngân hàng chưa được công bố đồng nhất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khung thời gian sau năm 2019 khi các cam kết mở cửa thị trường tài chính của CPTPP được triển khai đầy đủ, áp dụng thêm các phương pháp đo lường cạnh tranh và rủi ro phi tham số khác, hoặc mở rộng so sánh định lượng chéo giữa các hệ thống ngân hàng trong toàn khối CPTPP.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp căn cứ thực nghiệm về tác động của sự hiện diện ngân hàng ngoại và biến động vĩ mô, hỗ trợ quá trình hoàn thiện thể chế quản lý thận trọng và điều hành chính sách tiền tệ khi thực thi các FTA thế hệ mới.
  • Đối với các nhà quản trị ngân hàng thương mại: Tham khảo ma trận SWOT và kết quả phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng để xây dựng chiến lược tăng vốn tự có, tái cấu trúc danh mục kinh doanh, phát triển dịch vụ phi tín dụng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp chỉ số Lerner và Z-score trên dữ liệu bảng, hệ thống hóa tổng quan tài liệu và nguồn số liệu tham khảo về thị trường ngân hàng khối CPTPP.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng phương pháp nào để đo lường năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các NHTM Việt Nam?

Luận án sử dụng phương pháp định lượng thông qua hai thước đo chuẩn tắc: chỉ số Lerner để đo lường năng lực cạnh tranh (sức mạnh định giá thị trường) và chỉ số Z-score (cùng biến thể ZscoreMH2) để đo lường mức độ ổn định tài chính (khoảng cách đến điểm vỡ nợ). Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng được ước lượng và kiểm định bằng phần mềm Stata 14.0.

2. Mẫu nghiên cứu và khung thời gian của luận án được xác định như thế nào?

Mẫu nghiên cứu thực nghiệm gồm 31 ngân hàng thương mại Việt Nam (chiếm 99,78% tổng tài sản của 35 NHTM 100% vốn trong nước tại thời điểm 31/12/2018 với quy mô 9.556.489 tỷ đồng), kết hợp dữ liệu của 11 ngân hàng có vốn nước ngoài và hệ thống ngân hàng 10 nước CPTPP. Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2018, cập nhật một số số liệu đến quý III/2019.

3. Kết quả hồi quy chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định ngân hàng như thế nào?

Kết quả thực nghiệm cho thấy năng lực cạnh tranh có tác động tích cực đến mức độ ổn định của các NHTM VN. Phát hiện này ủng hộ cho quan điểm "cạnh tranh - dễ tổn thương" (competition-fragility), chỉ ra rằng việc gia tăng sức mạnh thị trường và vị thế cạnh tranh giúp ngân hàng tích lũy đệm an toàn vốn tốt hơn để duy trì ổn định.

4. Sự hiện diện của các tổ chức tài chính nước ngoài tác động như thế nào đến NHTM Việt Nam theo kết quả nghiên cứu?

Sự gia tăng tổng tài sản và sự hiện diện của các tổ chức tài chính nước ngoài tại thị trường nội địa có tác động tích cực đến cả năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các NHTM VN, phản ánh hiệu ứng lan tỏa về chuyển giao công nghệ, chuẩn mực quản trị và thúc đẩy các ngân hàng trong nước nâng cao hiệu quả hoạt động.

5. Yếu tố nào có tác động tiêu cực đến mức độ ổn định và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam?

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và quy mô huy động vốn là hai yếu tố nội tại có tác động tiêu cực đến cả mức độ ổn định và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thủy Tú đã thực hiện nghiên cứu toàn diện về năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018 trong bối cảnh tham gia Hiệp định CPTPP. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua chỉ số Lerner, Z-score trên phần mềm Stata 14.0, công trình đã làm rõ chiều hướng tác động của các yếu tố nội tại, sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài và môi trường vĩ mô, khẳng định mối quan hệ tích cực giữa năng lực cạnh tranh và độ ổn định ngân hàng. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống 7 nhóm hàm ý chính sách đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các cơ quan quản lý và các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống trong tiến trình hội nhập quốc tế.