phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 7 z Chƣơng 1 TƢ DUY BIỆN CHỨNG VÀ VAI TRÕ GIẢNG DẠY HỌC PHẦN THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TƢ DUY BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM 1. Năng lực tƣ duy biện chứng và sự cần thiết nâng cao năng lực này ở sinh viên cao đẳng Sƣ phạm 1. Tƣ duy biện chứng và năng lực tƣ duy biện chứng * Tư duy biện chứng Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới.
Tư duy là sản phẩm của một dạng vật chất sống có tổ chức cao; được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất, đặc trưng nhất của con người. Nó là kết quả phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Triết học Mác - Lênin chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội trong việc hình thành, phát triển ý thức của con người.Ăngghen cho rằng: “Nếu người ta đặt câu hỏi tư duy, ý thức là gì, chúng từ đâu đến thì người ta thấy chúng là sản phẩm của bộ óc con người” [4, 55].
Xét về bản chất, tư duy không chỉ là quá trình phản ánh mang tính chủ quan, mà còn là một quá trình sáng tạo. Tính sáng tạo là sự hình thành tri thức mới mang tính qui luật chi phối sự phát triển của các sự vật. Trong quá trình nhận thức chân lý, chủ thể tư duy phải biết đặt ra các vấn đề mới và huy động sáng tạo vốn tri thức đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, tri thức lý luận chung và sự am hiểu cần thiết để giải quyết chúng bằng phương pháp thích hợp đem lại hiệu quả cao. Vốn tri thức này có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức, thiếu nó chủ thể sẽ không có tư duy sáng tạo.
Ngoài ra, sự tham gia tích cực của tưởng tượng và trực giác trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ tư duy lý luận khoa học. Tư duy không chỉ là sự phản ánh mang tính chủ quan, tính sáng tạo, mà còn mang bản chất xã hội bởi tư duy có quan hệ chặt chẽ với lao động và ngôn ngữ. Lao động và thực tiễn xã hội là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất quyết định sự hình thành và phát triển tư duy con người. Chính sự vận 8 z động và phát triển của nhu cầu thực tiễn - xã hội đã đặt ra những nhu cầu và động lực cho sự phát triển của tư duy.
Khi tư duy xem xét về giới tự nhiên, về lịch sử xã hội đã đem lại cho con người sự hiểu biết phong phú, đa dạng, phức tạp về sự vận động, biến đổi, phát sinh và tiêu vong của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tư duy trừu tượng hướng vào việc tìm ra chân lý, nắm bắt những mối liên hệ khách quan, bản chất, phát hiện ra tính qui luật chi phối sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Qua tư duy trừu tượng mà nhận thức của con người đi từ sự hiểu biết ngẫu nhiên, bề ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, bản chất của các sự vật, hiện tượng. Tư duy giúp chúng ta nhận thức sự vật trong chỉnh thể thống nhất chứ không dừng lại ở sự hiểu biết riêng lẻ, tách rời các bộ phận của sự vật, hiện tượng.
Hơn nữa, tư duy còn bị quy định bởi tính chất và trình độ của phương thức sản xuất của mỗi dân tộc, mỗi thời đại và là kết quả của cộng đồng, của tập thể lao động trong xã hội loài người. Do vậy, nghiên cứu tư duy không thể xem nhẹ bản chất xã hội của nó mà phải dựa trên cơ sở kinh tế, văn hoá đặc thù của chế độ xã hội. Tư duy hình thành, phát triển trong quá trình nhận thức và sự hoàn thiện của bộ não người; cùng với sự phát triển của thực tiễn, tư duy cũng có quá trình phát triển riêng của mình. Quá trình đó đi từ thấp đến cao theo các quy luật khách quan của nhận thức.
Nếu ở thời nguyên thủy, tư duy loài người ở trình độ sơ khai nhất, và được thể hiện dưới các hình thức tư duy như tư duy hoang đường thể hiện trong các huyền thoại, tư duy đạo đức, thẩm mỹ, thì thời cổ đại, tư duy con người đã đạt trình độ mới, cao hơn về chất so với tư duy thời nguyên thủy đó là tư duy triết học. Cùng với sự xuất hiện của triết học, tư duy triết học với hai phương pháp tư duy đối lập đó là phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng đã ra đời, đánh dấu một phương thức tư duy mới của con người trong nghiên cứu và khám phá thế giới. Cuộc đấu tranh giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình diễn ra trong suốt quá trình phát triển của tư duy triết học. Phương pháp tư duy siêu hình xem xét, nghiên cứu sự vật trong trạng thái cô đọng, tĩnh tại, biệt lập, không vận động, không phát triển với lối tư duy cứng nhắc “chỉ thấy sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng” [4, 37].
Phương pháp tư duy siêu hình chưa đáp ứng được những đòi hỏi của nhận thức, nó bị phương pháp tư duy biện chứng phủ định và thay thế. 9 z Phương pháp tư duy biện chứng với lối tư duy linh hoạt, mềm dẻo trong nghiên cứu thế giới, không chỉ thấy sự vật trong trạng thái tĩnh tại mà còn thấy sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi, trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng, trong sự phát triển và tiêu vong của sự vật. Khẳng định tính đúng đắn của tư duy biện chứng, Ph.Ăngghen đã nêu một cách vắn tắt cái cốt lõi trong quan điểm biện chứng: “Phương pháp biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng” [4, 38]. Cùng với sự phát triển của khoa học cũng như của thực tiễn xã hội, phương pháp tư duy biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn với các hình thức khác nhau.
Thứ nhất, phép biện chứng tự phát thời cổ đại với những kiến giải mang tính trực quan, cảm tính về sự sinh thành, biến đổi của vạn vật. Tiêu biểu cho phương pháp tư duy này là quan niệm của các nhà triết học Trung Quốc thể hiện trong Đạo Lão hay trong thuyết Âm - Dương, Ngũ hành; ở Hy Lạp cổ đại như Hêraclít, Xôcrát, Aritxtốt. Thứ hai, phép biện chứng duy tâm. Phép biện chứng duy tâm xuất hiện khi phương pháp siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thức khoa học thời phục hưng và cận đại.
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong nền triết học cổ điển Đức với sự khởi đầu là Cantơ và phát triển đến đỉnh cao trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Theo Ăngghen, công lao lớn nhất của Hêghen là “đã quay trở lại phép biện chứng, coi đó là hình thức cao nhất của tư duy” [4, 34]. Dựa trên việc khái quát những thành quả mới nhất của khoa học đương thời, cũng như thực tiễn lịch sử, trên tinh thần kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của các nhà triết học tiền bối, mà trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen, C. Ăngghen đã xây dựng phép biện chứng duy vật.
Sau này được V. Lênin bổ sung, phát triển làm cho phép biện chứng duy vật của Mác trở thành “học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện” [4, 53]. Như vậy, có thể khẳng định, tư duy biện chứng được thể hiện trong triết học Mác - Lênin là tư duy biện chứng duy vật. Nó là kết quả của sự phát triển tư duy qua các giai đoạn phát triển của xã hội.
Đây là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng, là đỉnh cao của tư duy biện chứng. Do đó, tư duy biện chứng cũng đòi hỏi phải tuân thủ các 10 z nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng, như nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử cụ thể, xem xét sự vật trong tính thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, đi từ trừu tượng đến cụ thể. Nói riêng, Tư duy biện chứng duy vật mác xít là loại hình tư duy mà nhờ đó chủ thể không chỉ phản ánh những mối liên hệ, sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà còn phải nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn tri thức khái niệm, phạm trù, quy luật và những phương pháp luận của phép biện chứng duy vật vào nhận thức và hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao. Tư duy biện chứng duy vật mácxít là sự thống nhất giữa nội dung và phương pháp tư duy nên để có tư duy biện chứng duy vật mác xít, chủ thể nhận thức phải nắm vững, vận dụng linh hoạt những nguyên lý, qui luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật, các nguyên tắc, các phạm trù của lôgíc biện chứng để giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Khác với tư duy siêu hình, tư duy biện chứng duy vật mác xít phản ánh các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ phong phú, đa dạng, giữa các yếu tố, các bộ phận tạo nên sự vận động, biến đổi và chuyển hóa không ngừng. * Năng lực tư duy biện chứng Năng lực tư duy: Theo Hoàng Phê, trong Từ điển tiếng Việt, năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực được hiểu là những phẩm chất của con người tạo khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình hoạt động nhất định” [78, 639].