MỞ ĐẦU Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân chính gây bệnh tật và tử vong của trẻ em trên toàn thế giới [241], [137]. Mỗi năm có khoảng 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do NKHHC [195], và tỷ lệ tử vong do nguyên nhân này chiếm một phần ba trong tổng số ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước thu nhập thấp [226]. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), nhiễm khuẩn hô hấp cấp chiếm 6% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu, cao hơn so với các bệnh ung thư, HIV, tiêu chảy, thiếu máu v. Ở Việt Nam, theo thống kê của chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) thì trung bình mỗi năm một trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp từ 3 đến 5 lần, trong đó 1-2 lần bị viêm phổi [63].
Số trẻ em viêm phổi chiếm 30-40% những trường hợp khám và điều trị tại các bệnh viện, gây ra 75% số ca tử vong do các bệnh hô hấp và 30-35% tử vong chung ở trẻ em [63]. Tới nay, mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) nhìn chung có xu hướng giảm nhưng vẫn còn 149 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và gần 50 triệu trẻ em bị gầy còm; 340 triệu trẻ em bị đói tiềm ẩn do thiếu vitamin và khoáng chất trên thế giới [84]. Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân hiện nay khá cao ở các nước đang phát triển như Liberia, Malawi, Mozambique, Rwanda, Tanzania và Zambia, tỷ lệ trẻ bị nhẹ cân chưa đến 20% nhưng tỷ lệ SDD thấp còi trên 40% [84]. Theo tổ chức Save the Children (2016) thì khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ SDD thấp còi trung bình 33,9% (60,8 triệu trẻ); SDD nhẹ cân chiếm 24,8% (44,6 triệu trẻ) vào năm 2014 [65].
Việt Nam cũng như nhiều nước khác, trẻ có TTDD kém tập trung trong nhóm 6 - 23 tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ thấp còi ở Việt Nam gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn ăn bổ sung, từ 12% ở trẻ 6 tháng lên 29% ở trẻ 2 tuổi [84]. Nhiều bằng chứng cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và NKHHC ở trẻ em [108], [157], [173], [197], [218]. SDD ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn (như viêm phổi, tiêu chảy…) và làm tăng nguy cơ tỷ vong.
Trẻ em SDD bị suy giảm đáng kể khả năng miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch tế bào khiến chúng dễ mắc NKHHC hơn [157]. Trong một nghiên 1 cứu ở Nigeria 63,1% số trẻ SDD mắc NKHHC [226]. Bên cạnh đó, những bệnh nhi có vấn đề về sức khỏe phải điều trị nội trú như NKHHC cũng có nhiều nguy cơ về dinh dưỡng. Trẻ mắc bệnh càng nặng, nguy cơ về dinh dưỡng càng cao [122].
Một báo cáo trên trẻ em mắc NKHHC cho thấy, tỷ lệ có SDD là 69%, cụ thể theo phân loại của Gomez, 15% số bệnh nhi có SDD nghiêm trọng, 28% SDD vừa và 26% SDD nhẹ [233]. SDD cũng tác động tiêu cực tới tình trạng đáp ứng của cơ thể với quá trình điều trị, làm kéo dài thời gian hồi phục, và tăng nguy cơ tử vong [110]… Có thể thấy, SDD và NKHHC có mối tương quan chặt chẽ, giảm tỷ lệ trẻ mắc NKHHC có thể làm giảm nguy cơ có SDD; và ngược lại, chăm sóc dinh dưỡng tốt cho trẻ làm tăng cơ hội trẻ không mắc hoặc được chữa khỏi NKHHC. Thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến ở trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển và có liên quan đến gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong [203]. Tuy nhiên, việc bổ sung một số vi chất dinh dưỡng không đầy đủ hoặc có chất này không có chất khác cũng có thể làm tăng nhiễm khuẩn [208].
Do đó Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị tăng cường vi chất dinh dưỡng có thể được ưu tiên hơn [246]. Trong tổng hợp các nghiên cứu nhóm trẻ em từ 1-3 tuổi ở Delhi, Ấn Độ, được sử dụng bột đa vi chất dinh dưỡng gồm (vitamin A, C, E, sắt, kẽm selen và đồng) đã làm giảm đáng kể tỷ lệ NKHHC so với nhóm đối chứng sử dụng sữa bột tiêu chuẩn [173]. Qua phân tích tổng hợp và dữ liệu từ một số thử nghiệm lớn đã kiểm tra tác dụng của việc bổ sung các vi chất dinh dưỡng khác nhau đối với tỷ lệ mắc, bệnh tật và tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính dưới ở trẻ em trên 6 tháng tuổi. Bổ sung kẽm giúp giảm 20% tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI), bổ sung sắt và sắt cộng với axit folic không có tác dụng và bổ sung nhiều vi chất dinh dưỡng (dùng như sữa tăng cường) dường như có tác dụng tương tự đối với tỷ lệ mắc bệnh hơn chỉ bổ sung kẽm.
Từ đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố tác động đến mối liên quan giữa TTDD, NKHHC và bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm cá nhân (tuổi, giới tính, vị trí địa lý và tình trạng kinh tế xã hội) hay liều lượng của vi chất dinh dưỡng và nếu sử dụng nhiều vi chất dinh dưỡng đồng thời có khả năng xảy ra nhiều tác động tích cực đến cải thiện tình trạng sức khỏe của trẻ [203]. 2 Trẻ em 6 - 23 tháng tuổi là giai đoạn cửa sổ cơ hội quan trọng để tối ưu hóa sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, ngăn ngừa các hậu quả tiêu cực lúc trưởng thành [134]. Việc tìm hiểu thực trạng cũng như các yếu tố liên quan tới SDD ở trẻ 6 - 23 tuổi sau mắc NKHHC cung cấp các bằng chứng cho các bác sĩ lâm sàng, phụ huynh người chăm sóc trẻ, các nhà quản lý y tế, người hoạch định chính sách, góp phần cải thiện TTDD ở trẻ em, giảm tỷ lệ mắc bệnh và nguy cơ tử vong. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy lợi ích của các can thiệp dinh dưỡng bằng bổ sung VCDD, mà cụ thể là sử dụng bột VCDD tới TTDD của trẻ, làm giảm nguy cơ thiếu máu và mắc các bệnh nhiễm khuẩn [133], [217].
Bibomix là một sản phẩm do Viện Dinh dưỡng quốc gia nghiên cứu và phát triển. Sản phẩm có thành phần VCDD hợp lý, thích hợp để bổ sung cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ 6-23 tháng tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Hà Nam như thế nào? Việc bổ sung đa vi chất Bibomix đến tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ số hóa sinh, khẩu phần ăn và tần suất nhiễm khuẩn hô hấp cấp tới nhóm trẻ 6-23 tháng tuổi có nguy cơ và suy dinh dưỡng thấp còi sau mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp có hiệu quả ra sao? Là những câu hỏi rất cần lời giải đáp. Kết quả thu được sẽ góp phần chăm sóc, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng tuổi sau mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp, một bệnh rất thường gặp ở trẻ em nước ta.
Vì vậy nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục tiêu: 3 Mục tiêu: 1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ 6-23 tháng tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hà Nam năm 2016- 2018. Đánh giá hiệu quả bổ sung bột đa vi chất Bibomix đến tình trạng dinh dưỡng, một số chỉ số hóa sinh, khẩu phần và tần suất nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên nhóm trẻ 6-23 tháng tuổi có nguy cơ và suy dinh dưỡng thấp còi sau mắc và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cương về tình trạng dinh dưỡng 1. Khái niệm Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng [80].
Suy dinh dưỡng là tình trạng không thể cung cấp đủ năng lượng và chất đạm từ khẩu phần và các yếu tố vi lượng khác đảm bảo cho cơ thể phát triển, lâu dài dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ [8]. Phân loại, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi. SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gày còm [85]. Theo khuyến nghị của WHO, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá TTDD là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (< -2SD) so với chuẩn tăng trưởng của WHO 2005 [244]. Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng [251]. Chỉ số Z- Score (điểm -Z) được tính theo công thức [244]: Kích thước đo được - số trung bình của chuẩn tăng trưởng Z- Score = Độ lệch chuẩn của chuẩn tăng trưởng Khi CN/T Z-score < - 2SD: SDD thể nhẹ cân Khi CC/T Z-score < - 2SD: SDD thể thấp còi Khi CN/CC Z-score < - 2SD: SDD thể gầy còm 5 Bảng 1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo chuẩn tăng trưởng WHO 2006 với 3 chỉ số theo Z-Score [244] Tình trạng SDD Chỉ số Z - Score Phân loại < -3SD SDD mức độ nặng Cân nặng/tuổi < -2SD SDD mức độ vừa Từ -2SD đến + 2SD Bình thường < -3SD SDD mức độ nặng Chiều cao/tuổi < -2SD SDD mức độ vừa Từ -2SD đến + 2SD Bình thường < -3SD SDD mức độ nặng < -2SD SDD mức độ vừa Cân nặng/chiều cao Từ - 2SD đến + 2SD Bình thường > +2SD Thừa cân > + 3SD Béo phì Bảng 1.
Các giá trị ngưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của chỉ số nhân trắc dinh dưỡng trẻ em [244] Mức độ thiếu dinh dưỡng (%) Chỉ tiêu Thấp Trung bình Cao Rất cao SDD thể nhẹ cân < 10 10 - 19 20 – 29 > 30 SDD thể thấp còi < 20 20 - 29 30 – 39 > 40 SDD thể gầy còm <5 5-9 10 – 14 > 15 Tuy nhiên chỉ số này biểu hiện một tình trạng thiếu hụt về dinh dưỡng nhưng không đánh giá được tình trạng thiếu hụt đó xảy ra trong khoảng thời gian hiện tại hay thời gian trước đó.