Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về y tế trường học 1. Khái niệm về trường học nâng cao sức khỏe Theo Tổ chức y tế thế giới “Trường học nâng cao sức khỏe là trường học trong đó cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ và cam kết thúc đẩy sức khoẻ toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng nhà trường từ tình cảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” [6], [66] Cũng theo định nghĩa này, Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra bốn nội dung hoạt động cơ bản của mô hình trường học NCSK. Các nội dung này liên quan và hỗ trợ lẫn nhau, đó là nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe trong trường học, tổ chức các dịch vụ sức khỏe trong trường học, xây dựng cơ sở vật chất và môi trường trường học và thực hiện các chính sách nâng cao sức khỏe trường học [6], [65], [66].
Cụ thể các nội dung này như sau: - Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khoẻ trong trường học + Lồng ghép giáo dục sức khoẻ vào trong các môn học chính khoá của bậc học, cấp học, ngành học. + Triển khai hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ qua các hoạt động ngoại khoá, sinh hoạt tập thể, pano, áp phích, khẩu hiệu, tranh, ảnh… Biểu dương khen thưởng kịp thời người tốt, việc tốt. + Tổ chức các hoạt động lồng ghép truyền thông giáo dục sức khoẻ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. - Tổ chức các dịch vụ sức khoẻ trường học + Khám và sơ cứu những trường hợp ốm đau hoặc tai nạn.
+ Khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm các trường hợp bị bệnh, lập 5 hồ sơ theo dõi sức khoẻ học sinh. Đặc biệt cần quan tâm đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (trẻ bị bỏ rơi, cô đơn, có vấn đề về tâm lý, hay bị đánh đập…) để có biện pháp chăm sóc giúp đỡ. + Triển khai các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu (như chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống giun sán, phòng chống suy dinh dưỡng) + Thực hiện chương trình nha học đường và giáo dục nha khoa, mắt học đường và giáo dục phòng chống tật cận thị. + Có tủ thuốc, có thầy thuốc phục vụ thường xuyên tại phòng sức khoẻ trường học (còn gọi là phòng y tế nhà trường).
+ Tham gia bảo hiểm sức khoẻ học sinh. - Xây dựng cơ sở vật chất và môi trường cho trường học + Lớp học có trang thiết bị đúng quy cách. + Có sân chơi, bãi tập, dụng cụ phương tiện luyện tập thể dục thể thao đảm bảo an toàn. + Có công trình vệ sinh, nước sạch đảm bảo hợp vệ sinh.
+ Đảm bảo có đủ nước uống sạch. + Thu gom, xử lý rác và nước thải hàng ngày. + Trồng cây xanh ở sân, vườn trường. + Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là các trường học nội trú, bán trú.
- Thực hiện các chính sách nâng cao sức khoẻ trường học + Không hút thuốc lá, uống rượu bia, lạm dụng ma tuý và chất kích thích. + Không quan hệ tình dục sớm, lạm dụng tình dục. + Không có hành vi bạo lực: đe doạ, đánh đập, ức hiếp học sinh. + Không để xẩy ra các tai nạn thương tích đáng tiếc.
6 + Tiến hành xã hội hoá các hoạt động nâng cao sức khỏe trường học Các nội dung này đã được hoạt động ra sao tại các trường học ở Việt Nam đặc biệt là các trường học phổ thông tại huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ năm học 2007 – 2008 là vấn đề cần được nghiên cứu. Các cơ sở để xây dựng trường học nâng cao sức khỏe ở Việt Nam [6], [7], [49] Tại Việt Nam có rất nhiều lý do để trường học cần phấn đấu trở thành trường học nâng cao sức khỏe, đó là: - Sức khoẻ của thế hệ trẻ là một nhân tố quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và phát triển năng khiếu của các em khi đang học ở trường cũng như tương lai sau này. - Học sinh là cầu nối hữu hiệu nhất giữa gia đình với nhà trường và cộng đồng, nên nếu các em được chăm sóc, giáo dục sức khoẻ tốt sẽ ảnh hưởng tích cực tới mọi người trong toàn xã hội. - Việt Nam có số lượng học sinh đến trường cao.
Trường học là nơi hầu hết học sinh có thể tiếp cận với công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ. - Các điều kiện vệ sinh của phương tiện học tập, môi trường học đường có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức khoẻ của học sinh. - Đầu tư cho chương trình y tế trường học sẽ là đầu tư có hiệu quả nhất để nâng cao sức khoẻ học sinh và giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng. Các văn bản pháp lý về y tế trường học tại Việt Nam [47], [49], [51] Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ em lứa tưổi trường học đã được Đảng, Chính phủ quan tâm.
Nhiều công trình nghiên cứu về sức khỏe học sinh của các tác giả đã được công bố. Tiêu chuẩn xây dựng trường lớp, tiêu chuẩn chiếu sáng, bàn ghế học tập đã được quy định trong điều lệ vệ sinh, bảo vệ sức khỏe từ năm 1964. Thông tư liên bộ Y tế, Giáo dục số 32/ TTLB 7 ngày 27/2/1964 đã hướng dẫn công tác vệ sinh trường học. Thông tư cũng đã quy định nhiệm vụ cho trạm y tế xã chăm lo sức khỏe học sinh trong trường học ở xã.
Liên bộ cũng đã xây dựng thí điểm được trường Tán Thuật (Thái Bình) trở thành lá cờ đầu về phong trào thể dục vệ sinh. [49] Trong thời kì chiến tranh phá hoại leo thang ra miền Bắc ngày càng ác liệt, các trường học phải sơ tán về nông thôn, miền núi. Bộ Y Tế đã tiến hành điều tra sức khỏe, bệnh tật của trên 20.000 học sinh ở 13 tỉnh thành phố trong 2 năm học 1966- 1967 và 1967-1968. Kết quả điều tra cho thấy thể lực của học sinh bị giảm sút, tình hình bệnh tật tăng.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành chỉ thị 46/TTG ngày 2/6/1969 giao trách nhiệm cho các ngành các cấp phối hợp thực hiện giữ gìn và nâng cao sức khỏe học sinh, trong đó có quy định: Ngành Y tế phải coi học sinh là một trong những đối tượng phục vụ chính của mình, phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục tổ chức mạng lưới, bảo đảm thực hiện chế độ phòng bệnh cho học sinh, giáo viên. [49] Năm 1973 có thông tư liên bộ 09/LB/YT-GD ngày 7/6/1973 hướng dẫn y tế trường học, trong đó có phân cấp việc khám chữa bệnh và quản lí sức khỏe học sinh từ tuyến y tế xã đến bệnh viện tỉnh, thành phố. Trong thời gian này công tác y tế trường học đã có nhiều chuyển biến và thu được kết quả tốt. Nhiều công trình nghiên cứu về tình hình thể lực, bệnh tật, điều kiện học tập, giảng dạy, bàn ghế phù hợp với lứa tuổi, cải thiện chiếu sáng lớp học, thử nghiệm các chương trình tài liệu giáo dục trong trường học đã được tiến hành.
[49] Đến năm 1982 có thông tư liên bộ số 13/ LB - GD - YT. Ngày 9/ 6/ 1982 về việc đẩy mạnh công tác vệ sinh trường học. Nhưng tiếc rằng sau khi ban hành đã thiếu sự chỉ đạo thực hiện để phù hợp với tình hình mới của đất nước. [49] Cuối thập kỉ 80, với sự tài trợ của UNICEF, môn học giáo dục sức khỏe đã được thí điểm giảng dạy ở bậc tiểu học của một số trường thuộc các tỉnh 8 tham gia dự án và đến năm 1996 môn học Giáo dục sức khỏe được coi là một trong 9 môn học bắt buộc ở bậc tiểu học và được triển khai đại trà trong cả nước.
Với phương pháp dạy và học tích cực, lấy học sinh làm trọng tâm, môn học này đã có tác dụng góp phần bảo vệ, nâng cao sức khỏe học sinh. Với dự án vệ sinh môi trường và nước sạch trong trường tiểu học với sự tài trợ của UNICEF và của chương trình quốc gia nước sạch - vệ sinh môi trường đã xây dựng hơn 6.000 công trình vệ sinh (nhà tiêu) và giếng nước ở các trường tiểu học của cả nước. [49] Trong thời gian này cũng có các đợt điều tra về phát triển thể lực và sức khỏe học sinh. Các hội nghị khoa học về thể chất và sức khỏe trường học toàn ngành giáo dục và đào tạo đã được tổ chức 2 năm một lần và bộ Giáo dục và đào tạo đã xuất bản tuyển tập NCKH giáo dục thể chất và sức khỏe trong trường học các cấp (1996, 1998, 2000).
Công trình điều tra sức khỏe thế hệ trẻ Việt Nam và nhiều nghiên cứu sức khỏe lứa tuổi trường học đã được tiến hành. Thông tư số 23/TTLB-BYT-BGD&ĐT ngày 21/10/1987 liên Bộ Y tế- Giáo dục đào tạo về công tác nha học đường [49] Năm 1997 Bộ Y Tế đã tổ chức nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức y tế trường học trong tình hình mới theo mã số đề tài khoa học cấp nhà nước theo mã số KHCN 11 - 06. Kết quả của đề tài đã giúp cho việc đề xuất một số kiến nghị tập trung vào củng cố và phát triển mạng lưới y tế trường học, tăng cường các văn bản pháp lí chỉ đạo hướng dẫn các nội dung hoạt động trong những năm tới [51] Các văn bản, chỉ thị, quyết định được Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong thời gian từ năm 1995 tới nay có liên quan tới y tế trường học là 9 - Chỉ thị số 10/GD-DT ngày 30/6/1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường phòng, chống AIDS và các tệ nạn xã hội trong trường học. - Chỉ thị số 08/GD-DT ngày 12/5/1997 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác vệ sinh trong trường học - Năm 1998 có thông tư liên bộ Giáo dục Đào tạo và Y tế số 40/ 1998/ TTLT- BGDĐT- BYT ngày 14/ 7/ 1998 có hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế học sinh thay cho thông tư số 14/ TTLB ngày 19/ 9/1994 của liên bộ GDĐT – YT.
- Thông tư số 03/TTLB-BYT-BGD&DT ngày 1/3/2000 liên Bộ Y tế - Giáo dục Đào tạo về việc hướng dẫn công tác y tế trường học - Quyết định số 1221/2000/QĐ-BYT ngày 18-4-2000 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Qui định về vệ sinh trường học.