Tổng quan luận án
Công bằng sức khỏe (CBSK) được xác định là tình trạng giảm thiểu hoặc không còn sự khác biệt mang tính hệ thống, có thể phòng tránh được hoặc chịu sự tác động của chính sách về sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe giữa các nhóm dân cư thuộc các điều kiện và đặc quyền xã hội khác nhau. Tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm khoảng 14% dân số cả nước, phân bố tập trung chủ yếu tại các khu vực miền núi, vùng cao có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế và y tế cơ sở, khoảng cách về tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế giữa người DTTS và dân tộc đa số (người Kinh) vẫn tồn tại dai dẳng, đặc biệt ở nhóm bà mẹ và trẻ em. Tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở các DTTS cao gấp 3–4 lần người Kinh; tỷ số tử vong mẹ tại khu vực Tây Nguyên năm 2020 ở người DTTS là 84/100.000 ca sinh sống, cao gấp 3,4 lần người Kinh (24/100.000 ca sinh sống); tỷ lệ bà mẹ DTTS khám thai từ 4 lần trở lên chỉ đạt 32,7% so với mức 82,1% ở nhóm Kinh/Hoa.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình mô tả toàn diện thực trạng sức khỏe người DTTS theo từng nhóm vòng đời (trẻ em dưới 5 tuổi, vị thành niên, người trưởng thành, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên). Đồng thời, các nghiên cứu bằng chứng về công bằng sức khỏe ở người DTTS tại Việt Nam trước đây còn hạn chế về số lượng, chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp đơn lẻ và phương pháp đo lường sự khác biệt giản đơn, chưa kết hợp phương pháp phân tích độ tập trung để đánh giá mức độ bất công bằng liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội. Luận án "Sức khỏe và bất công bằng sức khỏe ở một số nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mai Hường thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thanh Hà và GS. Hoàng Văn Minh tại Trường Đại học Y tế Công cộng (mã số chuyên ngành: 9720701, bảo vệ năm 2024) được triển khai nhằm giải quyết các khoảng trống trên.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng sức khỏe của một số nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam năm 2019.
- Phân tích mức độ bất công bằng sức khỏe ở một số nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam năm 2019.
- Phân tích một số yếu tố làm gia tăng bất công bằng sức khỏe và giải pháp góp phần giảm thiểu bất công bằng sức khỏe ở nhóm dân tộc thiểu số có mức độ bất công bằng cao tại Việt Nam năm 2024.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các cá nhân thuộc các nhóm DTTS tại Việt Nam được phân chia theo lứa tuổi (trẻ em dưới 5 tuổi, vị thành niên từ 10–19 tuổi, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15–49 tuổi, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên), cùng các bên liên quan gồm cán bộ y tế cơ sở, cán bộ quản lý và chuyên gia tại các cơ quan chuyên môn (Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc, Học viện Dân tộc, UNICEF). Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm 12 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế - xã hội có đông đồng bào DTTS sinh sống. Phạm vi thời gian nghiên cứu sử dụng số liệu định lượng năm 2019 từ đề tài cấp Nhà nước của Trường Đại học Y tế Công cộng ("Những giải pháp cơ bản và cấp bách về chăm sóc sức khỏe đồng bào DTTS nước ta hiện nay") và số liệu nghiên cứu bổ sung thu thập vào năm 2024.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý thuyết, công cụ đo lường và các bằng chứng thực nghiệm quốc tế cũng như tại Việt Nam xoay quanh vấn đề sức khỏe và bất công bằng sức khỏe ở người DTTS.
Về khái niệm, luận án trích dẫn định nghĩa dân tộc thiểu số của Francesco Capotorti (1977) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1992 và định nghĩa theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam. Khái niệm sức khỏe được dẫn chiếu từ Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), định nghĩa sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội. Khái niệm công bằng sức khỏe được tổng thuật theo Braveman (2006) và mô hình các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe của WHO (2010), phân định rõ công bằng theo chiều ngang (nhu cầu như nhau được chăm sóc như nhau) và công bằng theo chiều dọc (nhu cầu cao hơn nhận được chăm sóc nhiều hơn). Luận án cũng điểm qua 5 nhóm chỉ số đo lường bất CBSK theo tiếp cận của WHO: phân bổ nguồn lực tài chính y tế, khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức khỏe, và tình trạng sức khỏe.
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại cụ thể:
- Nghiên cứu quốc tế về tình trạng sức khỏe và bất công bằng sức khỏe DTTS:
- Bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây: Các nghiên cứu tại Mỹ chỉ ra tỷ suất mắc và tử vong do HIV/AIDS ở người da đen (49,8‰ và 20,6‰) cao hơn nhiều so với người da trắng (5,9‰ và 2,9‰) năm 2017; tỷ lệ mắc lao ở phụ nữ người Mỹ bản địa/thổ dân Alaska (AI/AN) cao gấp 14,2 lần phụ nữ da trắng; tỷ lệ nhiễm Covid-19 cao ở người gốc Tây Ban Nha (33,0%) và người da đen (22,0%) theo Stokes EK và cộng sự (2020). Tại Anh, bệnh tim mạch và tiểu đường ở người Nam Á cao gấp 5 lần dân số chung. Tỷ lệ tự báo cáo bệnh không lây ở người Mỹ gốc Phi đạt 78,5%.
- Tự đánh giá sức khỏe và sức khỏe tâm thần: Khảo sát BRFSS (2013–2018) và số liệu năm 2023 tại Mỹ cho thấy tỷ lệ người lớn AI/AN (29,0%), gốc Tây Ban Nha (23,0%) và da đen (21,0%) tự báo cáo sức khỏe ở mức trung bình hoặc kém, cao hơn người da trắng (16,0%). Nghiên cứu của Cara V. James và cộng sự (2017) cho thấy tỷ lệ có vấn đề sức khỏe tâm thần thường xuyên ở người AI/AN là 17,1% và người da đen là 13,9% (so với 12,5% ở người da trắng). Nghiên cứu của Peter Kunstadter (2013) tại Thái Lan chỉ ra phụ nữ dân tộc La Hủ tự báo cáo sức khỏe kém chiếm 49,1%.
- Sức khỏe bà mẹ, trẻ em và dinh dưỡng: Tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi ở người da đen tại Mỹ là 10,8/1.000 ca sinh sống so với 4,6/1.000 ở người da trắng; tỷ lệ trẻ đẻ nhẹ cân ở người da đen/AIAN là 11,3% so với 4,8% ở người da trắng. Tại Anh, tỷ số tử vong mẹ ở phụ nữ da đen cao gấp 4 lần phụ nữ da trắng giai đoạn 2016–2018. Tại Trung Quốc, nghiên cứu của các tác giả giai đoạn 1991–2010 cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em DTTS tăng từ 5,8% lên 13,5%.
- Tiếp cận dịch vụ y tế và chính sách: Các nghiên cứu của Buchmueller và cộng sự về Đạo luật Chăm sóc Hợp túi tiền (ACA/Obamacare) tại Mỹ; nghiên cứu về Đề án y tế hợp tác nông thôn mới tại Quảng Tây - Trung Quốc (2003); chính sách thẻ y tế 30 baht tại Thái Lan (2001); chiến lược Kalusugan Pangkalahatan tại Philippines (2011–2016); và các phân tích về rào cản ngôn ngữ, giao thông, chi phí y tế theo Hahn và Truman (2015), Youlian Liao (2009).
- Nghiên cứu tại Việt Nam về sức khỏe và dịch vụ y tế người DTTS:
- Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS người DTTS năm 2019 là 0,13% (tập trung tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An). Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người DTTS là 15,5% (năm 2015) và người Khmer Trà Vinh là 25,4% (năm 2017), nhưng tỷ lệ người DTTS tăng huyết áp được điều trị chỉ đạt 17,1% (so với 26,3% ở người Kinh).
- Tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi người DTTS năm 2019 là 22,1‰, tập trung cao tại Lai Châu (31,7‰), Điện Biên (29,7‰), Hà Giang (28,5‰). Tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở các dân tộc La Hủ, Lự, Mảng, Si La, Rơ Măm, Cờ Lao vượt mức 60,0‰. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em DTTS là 32,0% (gấp gần 2 lần người Kinh: 17,1%), cao nhất ở dân tộc Mông (56,8%) và Xơ Đăng (56,3%) theo số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng 2010–2020.
- Về sử dụng dịch vụ: Tỷ lệ phụ nữ DTTS khám thai từ 4 lần trở lên theo điều tra MICS 2014 chỉ đạt 28,3%, tại 60 xã nghèo đạt 17,1%, ở dân tộc Mông chỉ đạt 10,6%. Tỷ lệ phụ nữ Kinh/Hoa sàng lọc ung thư cổ tử cung là 30,8%, trong khi ở người Mông chỉ có 0,9%. Tỷ lệ khám chữa bệnh trong 12 tháng năm 2016 của người Mông thấp nhất (21,2%), chủ yếu sử dụng trạm y tế xã (>70%). Tỷ lệ hộ DTTS sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 2019 là 59,6%, trong đó người Gia Rai, Brâu, Mông dưới 9,0%.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước bằng cách thiết lập một khung đánh giá có hệ thống trên tập dữ liệu lớn tại 12 tỉnh, áp dụng đồng thời phương pháp đo lường sự khác biệt và phương pháp phân tích độ tập trung (chỉ số CI), phân tích đa chiều theo từng nhóm tuổi và đi sâu nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy bất công bằng cùng giải pháp can thiệp cho dân tộc Mông – nhóm đối tượng ghi nhận mức độ bất công bằng cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng khung lý thuyết của WHO (2010) về "Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe và công bằng sức khỏe". Khung lý thuyết này chia các yếu tố tác động thành hai nhóm chính:
- Các yếu tố quyết định cấu trúc: Bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị (quản trị, chính sách vĩ mô, chính sách xã hội, chính sách công, văn hóa và giá trị xã hội) và vị thế kinh tế - xã hội của cá nhân (tầng lớp xã hội, giới, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập).
- Các yếu tố quyết định trung gian: Điều kiện vật chất (điều kiện sống, làm việc, nhà ở, đất đai); các yếu tố hành vi và sinh học; các yếu tố tâm lý xã hội; và hệ thống y tế.
Về phương pháp đánh giá bất công bằng sức khỏe, tổng quan của luận án hệ thống hóa 5 phương pháp:
- Phương pháp đo lường khác biệt về sức khỏe (so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối).
- Phương pháp phân tích độ dốc (Slope Index of Inequality).
- Phương pháp phân tích độ tập trung (Biểu đồ tập trung và Chỉ số tập trung - Concentration Index, CI).
- Phương pháp phân tích hệ số Gini và đường cong Lorenz.
- Phương pháp phân tích thành phần chỉ số tập trung.
Trong thực tế triển khai, luận án sử dụng 2 phương pháp phân tích định lượng chính:
- Phương pháp đo lường khác biệt về sức khỏe: Tính toán và so sánh tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế giữa các nhóm dân tộc, giới tính, vùng địa lý, trình độ học vấn và phân nhóm ngũ phân vị kinh tế (từ nghèo nhất Q1 đến giàu nhất Q5).
- Phương pháp phân tích độ tập trung: Tính chỉ số tập trung (CI) dựa trên diện tích nằm giữa biểu đồ tập trung và đường bình đẳng. Giá trị CI dao động từ -1 đến +1. CI = 0 biểu thị sự bình đẳng tuyệt đối. Đối với biến số sức khỏe mang tính tiêu cực (ốm đau, bệnh tật, chi phí thảm họa), giá trị CI âm (-) phản ánh tình trạng tập trung bất lợi ở nhóm nghèo. Đối với biến số dịch vụ y tế hoặc sức khỏe tích cực (khám thai đủ lần, đo huyết áp, dùng nước sạch), giá trị CI dương (+) phản ánh sự hưởng lợi tập trung ở nhóm giàu. Độ lớn tuyệt đối của CI (|CI| ≥ 0,2) xác định mức độ bất công bằng nghiêm trọng.
Thiết kế nghiên cứu và nguồn dữ liệu:
- Mục tiêu 1 và Mục tiêu 2: Nghiên cứu cắt ngang sử dụng số liệu thứ cấp từ đề tài cấp Nhà nước năm 2019 tại 12 tỉnh. Cỡ mẫu khảo sát hộ gia đình là n = 5.024 người DTTS. Các tập mẫu phân tích chuyên biệt bao gồm: bệnh truyền nhiễm (n = 4.976), bệnh không lây nhiễm (n = 5.024), ốm đau 3 tháng qua (n = 5.024), tự đánh giá sức khỏe chung (n = 5.001), phụ nữ có con dưới 5 tuổi (n = 899), trẻ em dưới 5 tuổi (n = 899), vị thành niên 10–19 tuổi (n = 896–898), phụ nữ 15–49 tuổi (n = 903), người cao tuổi ≥60 tuổi (n = 869–875), tai nạn thương tích (n = 4.994), sức khỏe tâm thần (n = 4.998), sử dụng rượu bia (n = 960).
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu bổ sung thực hiện năm 2024 kết hợp phương pháp định lượng và định tính (phỏng vấn sâu - PVS, thảo luận nhóm - TLN) đối với người dân tộc Mông, cán bộ y tế (trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện), đại diện cơ quan quản lý (Sở Y tế, Ban Dân tộc, Chi cục Dân số) và các chuyên gia y tế công cộng.
| Hợp phần nghiên cứu |
Thiết kế & Phương pháp |
Đối tượng & Cỡ mẫu |
Chỉ số / Biến số chính |
| Mục tiêu 1 (Thực trạng sức khỏe 2019) |
Cắt ngang định lượng |
n = 5.024 người DTTS tại 12 tỉnh (trẻ em, vị thành niên, phụ nữ, NCT) |
Mắc bệnh truyền nhiễm, không lây nhiễm, tai nạn thương tích, tâm thần, dinh dưỡng, tự đánh giá sức khỏe |
| Mục tiêu 2 (Mức độ bất CBSK 2019) |
Đo lường khác biệt & Phân tích chỉ số tập trung (CI) |
n = 5.024 người DTTS (phân tầng theo ngũ phân vị kinh tế, dân tộc, học vấn, giới) |
Chỉ số CI về khoảng cách CSYT, bán tài sản KCB, khám thai ≥4 lần, thẻ BHYT, KCB, nước sạch, nhà tiêu |
| Mục tiêu 3 (Yếu tố & Giải pháp 2024) |
Nghiên cứu bổ sung: Định tính (PVS, TLN) & Định lượng |
Người dân tộc Mông, cán bộ y tế cơ sở, cán bộ quản lý, chuyên gia |
Rào cản địa lý, ngôn ngữ, tập quán sinh đẻ, chi phí y tế; gói giải pháp can thiệp chính sách và truyền thông |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp luận cứ lý luận và tổng hợp y văn quốc tế và trong nước về sức khỏe, các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe và công bằng sức khỏe ở người DTTS. Tác giả trình bày chi tiết các khung khái niệm của WHO, Braveman, các tiêu chí đánh giá tài chính y tế (chi phí y tế thảm họa, nghèo hóa do chi phí y tế), khả năng tiếp cận dịch vụ, chất lượng dịch vụ và hành vi nguy cơ. Chương 1 tổng kết 5 phương pháp đo lường bất CBSK và phân tích các bài học kinh nghiệm quốc tế về đảm bảo tài chính y tế và nhân lực y tế cơ sở tại Trung Quốc, Thái Lan, Philippines và Mỹ.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu cho 3 mục tiêu. Đối với mục tiêu 1 và 2, chương nêu rõ kỹ thuật chọn mẫu, quy trình làm sạch dữ liệu, danh mục biến số và chỉ số sức khỏe của đề tài gốc năm 2019 trên 5.024 đối tượng thuộc 12 tỉnh. Phương pháp tính toán sự khác biệt tương đối/tuyệt đối và công thức toán học tính chỉ số tập trung CI được trình bày cụ thể. Đối với mục tiêu 3, chương trình bày phương pháp nghiên cứu định tính bổ sung năm 2024 trên nhóm dân tộc Mông, bao gồm hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phương pháp phân tích nội dung định tính, tính giá trị và đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện thực chứng theo 3 nhóm nội dung chính tương ứng với 3 mục tiêu:
- Thực trạng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số năm 2019:
- Nhóm dân số chung: Tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm 12 tháng qua tự khai báo (Bảng 3.2, n=4.976); tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm 12 tháng qua (Bảng 3.3, Bảng 3.34); tỷ lệ ốm đau trong 3 tháng qua (Bảng 3.4); tỷ lệ tự đánh giá tình trạng sức khỏe (Bảng 3.5, n=5.001); tỷ lệ tai nạn thương tích (Bảng 3.24, n=4.994); tỷ lệ có vấn đề sức khỏe tâm thần (Bảng 3.26, n=4.998); tỷ lệ kết hôn cận huyết thống (Bảng 3.35); tình trạng dinh dưỡng (Bảng 3.33).
- Nhóm đối tượng đặc thù: Tình trạng mắc bệnh của phụ nữ có con dưới 5 tuổi (Bảng 3.6, n=899); sức khỏe trẻ em dưới 5 tuổi qua khai báo của mẹ (Bảng 3.7) và tỷ lệ dị tật bẩm sinh (Bảng 3.38); tỷ lệ vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân (Bảng 3.8, n=898), tự đánh giá sức khỏe (Bảng 3.9, Bảng 3.40, n=896), tai nạn thương tích (Bảng 3.39) và khó khăn hoạt động (Bảng 3.41); sức khỏe phụ nữ 15–49 tuổi (Bảng 3.10), mang thai ngoài ý muốn (Bảng 3.44); tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh (Bảng 3.12, n=869), tự đánh giá sức khỏe (Bảng 3.11, n=875) và mức độ khó khăn chức năng (Bảng 3.13, Bảng 3.45).
- Mức độ bất công bằng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số năm 2019:
- Phân tích sự khác biệt và chỉ số tập trung (CI) trên 12 tỉnh: Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất (Bảng 3.14, 3.15); tỷ lệ phải bán tài sản để khám chữa bệnh (Bảng 3.16, 3.17); tỷ lệ phụ nữ khám thai từ 4 lần trở lên (Bảng 3.18, 3.19, n=903); tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm (Bảng 3.20, 3.21); tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm (Bảng 3.22, 3.23); tai nạn thương tích (Bảng 3.25); sức khỏe tâm thần (Bảng 3.27); hành vi hút thuốc lá (Bảng 3.28, 3.29); sử dụng rượu bia (Bảng 3.30, 3.31, n=960).
- Các chỉ số dịch vụ và vệ sinh: Khả năng nói tiếng phổ thông (Bảng 3.46, 3.47); sở hữu thẻ BHYT (Bảng 3.48, 3.49); sử dụng thẻ BHYT khi KCB (Bảng 3.50, 3.51); sử dụng dịch vụ KCB 12 tháng qua (Bảng 3.52, 3.53); sử dụng biện pháp tránh thai (Bảng 3.54, 3.55); khám phụ khoa (Bảng 3.56, 3.57); người cao tuổi đo huyết áp (Bảng 3.58, 3.59) và xét nghiệm đường huyết (Bảng 3.60, 3.61); sử dụng nước hợp vệ sinh (Bảng 3.64), nhà xí hợp vệ sinh (Bảng 3.65) và kết hợp cả hai (Bảng 3.66).
- Một số yếu tố và giải pháp giảm thiểu bất công bằng sức khỏe của người Mông năm 2024: Tổng hợp các yếu tố cản trở và hệ thống giải pháp can thiệp cho người Mông (Bảng 3.67).
Chương 4: Bàn luận
Chương này bàn luận sâu sắc về các phát hiện nghiên cứu qua 4 tiểu mục:
- 4.1. Thực trạng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Đối chiếu các chỉ số bệnh tật, tử vong, dinh dưỡng, sức khỏe sinh sản với các nghiên cứu trong nước và quốc tế.
- 4.2. Thực trạng bất công bằng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Lý giải cơ chế hình thành các giá trị CI âm và dương; phân tích sự bất bình đẳng trong phân bổ tài chính y tế, rào cản tiếp cận trạm y tế, khoảng cách giàu - nghèo và chênh lệch giữa các nhóm dân tộc.
- 4.3. Một số yếu tố và giải pháp giảm thiểu bất công bằng sức khỏe của người dân tộc Mông năm 2024: Bàn luận về các yếu tố cấu trúc và trung gian đặc thù tác động lên người Mông (tập quán văn hóa, rào cản ngôn ngữ, địa hình cư trú hiểm trở, nhận thức y tế) và tính khả thi của các nhóm giải pháp đề xuất.
- 4.4. Hạn chế của nghiên cứu: Đánh giá khách quan các hạn chế về thiết kế nghiên cứu cắt ngang, việc thu thập dữ liệu dựa vào tự khai báo (self-reported) của đối tượng và tính đại diện của mẫu khảo sát.
Kết quả và những đóng góp mới
Những kết quả chính và đóng góp mới của luận án
- Đóng góp về mặt lý luận và phương pháp:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống áp dụng khung lý thuyết các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe của WHO (2010) vào bối cảnh người DTTS tại Việt Nam.
- Luận án kết hợp đồng thời phương pháp đo lường sự khác biệt và phương pháp phân tích độ tập trung (chỉ số CI), cung cấp bằng chứng định lượng chuẩn hóa về mức độ bất công bằng sức khỏe liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội trên tập dữ liệu đa tỉnh.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Luận án cung cấp bức tranh dịch tễ học toàn diện về mô hình bệnh tật và thực trạng sức khỏe người DTTS theo từng nhóm tuổi (trẻ em, vị thành niên, phụ nữ sinh đẻ, người cao tuổi) tại 12 tỉnh năm 2019.
- Luận án chỉ ra các lĩnh vực ghi nhận bất công bằng nghiêm trọng (tập trung bất lợi ở nhóm nghèo nhất và một số nhóm DTTS nhất định), bao gồm: tỷ lệ phải bán tài sản để khám chữa bệnh, tỷ lệ phụ nữ khám thai từ 4 lần trở lên, tỷ lệ khám phụ khoa, tỷ lệ người cao tuổi được đo huyết áp và xét nghiệm đường huyết, cũng như tỷ lệ tiếp cận nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.
- Luận án xác định người Mông là nhóm chịu bất công bằng sức khỏe sâu sắc nhất trên nhiều chỉ số lâm sàng và dịch vụ y tế, đồng thời cung cấp các bằng chứng định tính năm 2024 giải thích các rào cản gốc rễ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp toàn diện nhằm giảm thiểu bất công bằng sức khỏe ở người DTTS, tập trung vào các nhóm ưu tiên:
- Chính sách tài chính y tế: Mở rộng phạm vi và mức hỗ trợ của BHYT đối với người DTTS nghèo và cận nghèo; có chính sách hỗ trợ chi phí gián tiếp (đi lại, ăn ở) khi người bệnh DTTS phải chuyển tuyến điều trị để ngăn chặn tình trạng bán tài sản chữa bệnh.
- Phát triển hệ thống y tế cơ sở và nhân lực: Tăng cường đào tạo, tuyển dụng và duy trì đội ngũ cán bộ y tế là người địa phương, người DTTS; củng cố và duy trì mạng lưới cô đỡ thôn bản (CĐTB) tại các vùng núi cao, vùng sâu; nâng cao năng lực quản lý và điều trị bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã.
- Truyền thông giáo dục sức khỏe: Xây dựng tài liệu truyền thông song ngữ (tiếng phổ thông và tiếng dân tộc bản địa như tiếng Mông); đổi mới phương thức truyền thông phù hợp phong tục tập quán; tập trung thay đổi hành vi về chăm sóc thai nghén, sinh con tại cơ sở y tế, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, giảm thiểu hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia.
- Cải thiện môi trường sống và điều kiện vệ sinh: Đẩy mạnh hỗ trợ xây dựng nguồn nước hợp vệ sinh và nhà xí hợp vệ sinh tại các hộ gia đình DTTS nghèo; lồng ghép các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án ghi nhận:
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang không cho phép xác định mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe và tình trạng bệnh tật theo thời gian.
- Phần lớn thông tin về tình trạng mắc bệnh, ốm đau và triệu chứng sức khỏe dựa trên hình thức tự khai báo của đối tượng nghiên cứu (self-reported), có thể dẫn đến sai số nhớ lại hoặc đánh giá chưa hoàn toàn phản ánh chính xác tình trạng bệnh học lâm sàng.
- Dữ liệu định lượng năm 2019 được khai thác thứ cấp từ đề tài cấp Nhà nước tại 12 tỉnh, chưa bao phủ toàn diện cả 53 dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Nghiên cứu bổ sung định tính năm 2024 chỉ tập trung phân tích sâu trên nhóm dân tộc Mông.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các nghiên cứu can thiệp dọc để đánh giá hiệu quả thực tế của các gói giải pháp y tế công cộng đã đề xuất đối với việc cải thiện chỉ số sức khỏe của người DTTS.
- Mở rộng nghiên cứu dịch tễ học có khám sàng lọc lâm sàng và cận lâm sàng chuyên sâu nhằm đánh giá chính xác gánh nặng các bệnh không lây nhiễm (tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư) ở các nhóm DTTS rất ít người (như La Hủ, Mảng, Si La, Chứt, Rơ Măm).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn chuyên môn:
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Quản lý y tế, Xã hội học y tế và Dịch tễ học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu công bằng sức khỏe, quy trình ứng dụng chỉ số tập trung (CI) trên số liệu điều tra cộng đồng quy mô lớn, và phương pháp kết hợp nghiên cứu định lượng với định tính.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc, Ban Dân tộc các tỉnh và các tổ chức quốc tế (UNICEF, WHO, UNFPA): Các bảng số liệu thực chứng và kết quả phân tích chỉ số tập trung trong Chương 3 là cơ sở khoa học tin cậy để xây dựng các can thiệp ưu tiên, điều chỉnh chính sách BHYT, chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ - trẻ em và chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những phương pháp đo lường bất công bằng sức khỏe nào?
Luận án sử dụng hai phương pháp định lượng chính: phương pháp đo lường sự khác biệt về sức khỏe (tính toán khác biệt tuyệt đối và tương đối giữa các nhóm phân loại theo kinh tế, dân tộc, học vấn, giới tính) và phương pháp phân tích độ tập trung (xây dựng biểu đồ tập trung và tính toán chỉ số tập trung CI để lượng hóa mức độ bất công bằng liên quan đến kinh tế).
2. Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu của luận án được thiết kế như thế nào?
Luận án sử dụng dữ liệu định lượng cắt ngang năm 2019 từ Đề tài cấp Nhà nước của Trường Đại học Y tế Công cộng trên 5.024 người DTTS tại 12 tỉnh, kết hợp nghiên cứu bổ sung năm 2024 sử dụng phương pháp định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và định lượng khảo sát chuyên sâu trên người dân tộc Mông và các bên liên quan.
3. Những khía cạnh bất công bằng sức khỏe nào được phát hiện nghiêm trọng nhất ở người DTTS?
Bất công bằng sức khỏe tập trung bất lợi ở nhóm người nghèo và một số DTTS vùng cao trên các khía cạnh: tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ từ 4 lần trở lên (người Mông chỉ đạt 10,6%), tỷ lệ người cao tuổi được đo huyết áp và xét nghiệm đường huyết, tỷ lệ hộ gia đình phải bán tài sản để khám chữa bệnh, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi (ở người Mông là 56,8%), và tỷ lệ tiếp cận hố xí hợp vệ sinh (ở nhiều nhóm DTTS dưới 9,0%).
4. Tại sao luận án lại chọn nhóm dân tộc Mông để nghiên cứu sâu về giải pháp vào năm 2024?
Dữ liệu khảo sát năm 2019 cho thấy người Mông là nhóm có mức độ bất công bằng cao nhất trên nhiều chỉ tiêu: tỷ lệ đi khám chữa bệnh thấp nhất (21,2%), tỷ lệ sinh con tại nhà cao, tỷ lệ khám thai ≥4 lần và sàng lọc ung thư cổ tử cung thấp nhất (0,9%), tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao nhất (56,8%), chịu nhiều rào cản về ngôn ngữ, địa hình và kinh tế.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm nào?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện chính sách tài chính y tế và BHYT (hỗ trợ chi phí KCB gián tiếp); (2) Củng cố y tế cơ sở và phát triển mạng lưới nhân lực y tế/cô đỡ thôn bản người DTTS; (3) Đổi mới truyền thông giáo dục sức khỏe song ngữ phù hợp văn hóa; (4) Đầu tư hạ tầng nước sạch và vệ sinh môi trường lồng ghép trong các chương trình mục tiêu quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mai Hường là công trình nghiên cứu toàn diện về thực trạng sức khỏe và bất công bằng sức khỏe ở các nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu 5.024 người DTTS tại 12 tỉnh năm 2019 và nghiên cứu bổ sung năm 2024, luận án đã lượng hóa rõ nét mức độ bất công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế, tình trạng bệnh tật và điều kiện vệ sinh môi trường theo bậc thang kinh tế và nhóm dân tộc. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ việc hoạch định chính sách y tế công cộng, đào tạo nhân lực và triển khai các giải pháp can thiệp nhằm thu hẹp khoảng cách bất công bằng sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.