Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, tiêu chí và phương pháp đánh giá liên quan đến nội dung nghiên cứu. Dân tộc thiểu số Dựa trên quan điểm của Giáo sư Francesco Capotorti đưa ra năm 1977, Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1992 đã thông qua thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” là: “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: 1) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; 2) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; 3) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; 4) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; 5) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ" (9). Trên thế giới, mỗi quốc gia và khu vực việc xác định các nhóm DTTS là khác nhau.
Ở Châu Á, người DTTS là người bản địa có số lượng dân số ít hơn so với nhóm dân tộc đa số. Tại Trung Quốc, người dân không phải người Hán của Trung Quốc được gọi là “dân tộc thiểu số” và chiếm khoảng 8,9% dân số, với hơn 124 triệu người phân bố trên 60,0% lãnh thổ Trung Quốc (10). Ở các nước thuộc khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ, những người nhập cư, di cư hoặc người bản địa không phải là người da trắng là các nhóm DTTS. Tại Anh, nhóm “dân tộc thiểu số” để chỉ tất cả các nhóm dân tộc ngoại trừ nhóm người Anh da trắng.
Ở Việt Nam, khái niệm “Dân tộc thiểu số” được quy định tại Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc, như sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (11). Khái niệm sức khỏe Trong Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa: “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã 5 hội chứ không chỉ là không có bệnh tật” (12). Khái niệm về công bằng sức khỏe Theo tác giả Bravemen năm 2006, “Công bằng sức khỏe là tình trạng không còn sự khác biệt (chỉ bao gồm sự khác biệt có thể phòng tránh được hoặc chịu sự tác động của các chính sách) về sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm nhưng không giới hạn trong hệ thống chăm sóc sức khỏe - giữa các nhóm dân thuộc các điều kiện và đặc quyền xã hội khác nhau. Những người theo trường phái công bằng trong phân phối nguồn lực cho rằng: Công bằng sức khỏe được thể hiện dưới góc độ Công bằng trong chăm sóc sức khỏe (equity in health care).
Từ đó có hai khái niệm cơ bản là: Công bằng theo chiều ngang: Những người có nhu cầu sức khỏe giống nhau sẽ được chăm sóc như nhau và Công bằng theo chiều dọc: Những người có nhu cầu sức khỏe cao hơn sẽ nhận được nhiều chăm sóc hơn (13, 14). Năm 2010, cách nhìn về Công bằng sức khỏe đã mở rộng hơn, đó chính là mô hình “Các yếu tố xã hội ảnh hưởng lên sức khỏe và công bằng sức khỏe” của WHO. Theo đó, Công bằng sức khỏe được định nghĩa là tình trạng không còn sự khác biệt (chỉ bao gồm sự khác biệt có thể phòng tránh được hoặc chịu sự tác động của các chính sách) về sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe giữa các nhóm khác nhau trong xã hội (15). Bất công bằng có thể hiểu đơn giản là sự không có công bằng.
Bất công bằng sức khỏe đề cập đến sự khác biệt nào đó có thể phòng tránh được (có thể liên quan đến khía cạnh đạo đức, công lý hay quyền con người) (16). Các chỉ số đánh giá tình trạng sức khỏe và bất công bằng sức khỏe 1. Các chỉ số đo lường tình trạng sức khỏe Các chỉ số đo lường tình trạng sức khỏe là một tập hợp các dữ liệu giám sát đã được phân tích cho phép đánh giá tình trạng sức khỏe của người dân để từ đó có thể đưa ra các ưu tiên và hành động về CSSK thích hợp. Các chỉ số cần toàn diện, hợp lệ, được chuẩn hóa, đáp ứng các tiêu chí chất lượng và linh hoạt và để hỗ trợ các chính sách y tế đang phát triển.
Các chỉ số đo lường tình trạng sức khỏe gồm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh và khuyết tật cụ thể của bệnh (17). 6 Dựa trên khái niệm của WHO về sức khỏe, nghiên cứu của tác giả Van Leeuwen và cộng sự đã mô tả 3 khía cạnh chính sức khỏe gồm: sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội. Mỗi khía cạnh này được đánh giá bằng một số loại chỉ số (18): - Về khía cạnh sức khỏe thể chất gồm: Tình trạng thể chất, chức năng thể chất, di chuyển, điều kiện thể chất, sự thoải mái với chức năng thể chất, vấn đề giấc ngủ, triệu chứng thể chất; - Về khía cạnh sức khỏe tâm thần: Bệnh tâm thần, sự lo lắng, trầm cảm, tâm lý đau khổ, sức khỏe tâm lý, tác động tích cực, chức năng nhận thức; - Về khía cạnh xã hội: Hoạt động gia đình, hôn nhân Dựa trên mô hình “Các yếu tố xã hội ảnh hưởng lên sức khỏe và công bằng sức khỏe” đã được WHO xây dựng và công bố vào năm 2010 (19), một trong những năm nhóm chỉ số nhằm đo lường bất CBSK là tình trạng sức khỏe. Dưới đây là một số chỉ tiêu đo lường tình trạng sức khỏe (14): - Tuổi thọ và tình trạng tử vong: Tuổi thọ bình quân, tử vong theo lứa tuổi, tử vong sơ sinh,…; - Tình trạng bệnh: tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc; - Chức năng: Rối loạn chức năng, mức độ tàn tật; - Gánh nặng bệnh tật: “Là số năm bị mất đi do tử vong và chất lượng cuộc sống bị suy giảm vì bệnh tật” 1.
Các chỉ số đo lường bất công bằng sức khỏe Theo tiếp cận Công bằng sức khỏe đã mở rộng hơn, mô hình “Các yếu tố xã hội ảnh hưởng lên sức khỏe và công bằng sức khỏe” đã được WHO được xây dựng và công bố vào năm 2010 (Hình 1. Mô hình này phân chia các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe thành hai nhóm chính, bao gồm: Các yếu tố quyết định cấu trúc bao gồm: (a) Bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị; (b) Vị thế kinh tế xã hội của một người; Các yếu tố quyết định trung gian bao gồm: (a) Điều kiện vật chất; (b) Các yếu tố hành vi và/hoặc yếu tố sinh học; (c) Tâm lý xã hội; và (d) Hệ thống y tế. 7 Bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị Quản trị Vị thế kinh tế xã hội Các chính sách vĩ của một người Điều kiện vật chất mô (Điều kiện sống, làm việc, ẢNH HƯỞNG .) ĐẾN SỨC Các chính sách xã Tầng lớp xã hội KHỎE VÀ hội. Giới CÔNG BẰNG Thị trường lao động, Các yếu tố hành vi và/ SỨC KHỎE Dân tộc hoặc yếu tố sinh học Nhà ở, Đất đai Các chính sách Trình độ học vấn công Các yếu tố tâm lý xã hội Giáo dục, Y tế, Bảo trợ xã hội Nghề nghiệp Gắn kết xã hội và Vốn xã hội Văn hóa và các giá trị xã hội Thu nhập Hệ thống y tế CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRUNG GIAN Hình 1.1: Khung lý thuyết về các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe của WHO (15) Từ khái niệm CBSK mở rộng và mô hình Các yếu tố xã hội ảnh hưởng lên sức khỏe và CBSK nêu trên, có năm nhóm chỉ số nhằm đo lường bất CBSK, đó là: 1) Phân bổ nguồn lực và tài chính cho y tế; 2) Khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế; 3) Chất lượng dịch vụ và chăm sóc y tế; 4) Yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức khỏe; và 5) Tình trạng sức khỏe.
Chi tiết các chỉ số đo lường công bằng sức khỏe này (14) như sau: Bất công bằng trong phân bổ nguồn lực và tài chính cho y tế (14): - Phân tích chỉ số Kawani về công bằng tài chính y tế theo chiều dọc - Chi phí y tế thảm họa: Theo WHO, “Chi phí y tế thảm họa xảy ra khi chi trả tiền túi của một hộ gia đình bằng hoặc lớn hơn 40% khả năng chi trả của hộ gia đình” (20). - Nghèo hóa do chi phí y tế: Theo WHO, “Nghèo hóa do chí phí y tế là một hộ gia đình từ không nghèo trở thành nghèo do chi trả phí dịch vụ chăm sóc sức khỏe” (20). Bất công bằng trong khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế: thường sử dụng các chỉ số sau để đánh giá (14): Tiếp cận dịch vụ y tế: Có bảo hiểm y tế (BHYT); Tình trạng kinh tế hộ gia 8 đình; Khả năng tiếp cận đến cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu: (Ngôn ngữ, khoảng cách đến cơ sở y tế (CSYT), thời gian đi lại…); Sử dụng dịch vụ y tế: thường áp dụng cho những nhu cầu CSSK cơ bản như: Tiêm chủng; dịch vụ CSSK sinh sản bà mẹ, phụ nữ 15-49 tuổi; chăm sóc sức khỏe bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm; chăm sóc sức khỏe định kỳ. Bất công bằng trong chất lượng dịch vụ và chăm sóc y tế: thường dùng các chỉ số trung gian như (14): Sự sẵn có, tính phù hợp của dịch vụ, hiệu quả, an toàn, tính liên tục, thời gian chờ đợi và sự hài lòng.
Bất công bằng trong các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức khỏe như (14): + Nước sạch, công trình vệ sinh, nhà ở, ô nhiễm môi trường… + Giáo dục: một số chỉ số như tỷ lệ bỏ học, tỷ lệ đi học theo các cấp học, … + Việc làm: Tỷ lệ theo một số nhóm nghề nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp,. + Hành vi nguy cơ: hành vi hút thuốc lá, sử dụng rượu/bia, sử dụng ma túy, bạo hành,… Bất công bằng về tình trạng sức khỏe (14) được trình bày tại mục 1.