CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VẺ NẴNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn để cơ bản về cạnh tranh 1.Khái niệm cạnh tranh: Trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh đến xã hội đều xuất hiện thuật ngữ cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh được coi là một tất yếu cơ ban - tat yếu khách quan trong các hoạt động kinh tế. Cạnh tranh để tồn tại trong cơ chế đảo thải, cạnh tranh để phát.
Sự cạnh tranh ngảy cảng mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp hiện nay chỉ phối đến việc đưa ra các định hướng và chiến lược kinh doanh. Trên nhiều góc độ khác nhau, người ta có các quan điểm định nghĩa về cạnh tranh khác nhau, Có thể hiểu một cách đơn giản, cạnh tranh là việc sử dụng các biện pháp chiến thẳng thị trường. Hoặc cũng có thể hiểu, cạnh tranh là sử dụng các chính sách và nghệ thuật để doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi thể để tân tại trên thị trưởng. [12, tr 42] Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể, giữa các doanh nghiệp trên thị trường để có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn, chiểm lĩnh nhiễu thị phần hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Các doanh nghiệp phải luôn nỗ lực, cố gắng. tạo lợi thế tiếng của mình nhằm phát tạo chỗ đứng trên thị trường. Cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích giữa các chủ thể, các bên tham gia thị trưởng, bao gồm những người mua và những người bán. Trong cạnh tranh cũng chưa hắn là một bên thua một bên thắng mà nhiều khi nó lại mang lại lợi ích cho cả các bên tham gia.
Nhờ cạnh tranh mà mọi chủ thể không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng mọi tiện ích cho khách hàng, tăng cưởng chăm sóc khách hàng của mình. ngày một tốt hơn, làm giảm thiểu độc quyền trên thị trường. Phân loại cạnh tranh: * Nếu căn cứ vào thị trưởng: có thể chia cạnh tranh thành cạnh tranh trên thị trường đầu vào và cạnh tranh trên thị trường sân phẩm. + Cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành được các nguồn lực sản xuất có chất lượng tốt và chỉ phí thấp nhắt.[12, tr 45] + Cạnh tranh trên thị trường sản phẩm là nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần và giành khách hàng [12, tr 45] Thị trường cạnh tranh thưởng được phân thành 3 loại.
cạnh tranh giữa người mua và người bán: Trong khi người mua thường muốn mua hàng hóa dịch vụ với giá thấp nhất thì người bán lại muốn bán hàng hoá dịch vụ của mình với giá cao nhất có thể. øiá cả cuối cùng là mức oiá Hai là, cạnh tranh giữa người mua với người mua: Theo phương thức nay, mức độ cạnh tranh lại hoản toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cẩu của thị trường. Khi cầu lớn hơn cung thì mức cạnh tranh trở nên mạnh mẻ khi mua hàng hóa dịch vụ, giá cả hàng hoá vả địch vụ sẽ tăng lên, người mua sẽ phải chấp nhận giá cao hơn để mua được hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu của họ. cạnh tranh giữa những người bán với người bán: Là cuộc cạnh tranh để gianh giat khách hảng và thị trường, kết quả là giá cả sẽ giảm xuống, sẽ có lợi cho người mua.
Trong cuộc cạnh tranh này, những lực lượng tham gia cung ứng hàng hóa địch vụ sẽ tranh giảnh nhau thị phần, thị trường, kết quả là đối tượng chấp nhận được ấp lực và sức ép thị trường — lâm thỏa mãn thị trường sẽ giảnh thắng lợi.[12, tr43] * Nếu căn cứ vào tính chẳ cạnh tranh: thì cỏ thể chia cạnh tranh thành 3 loại, + Cạnh tranh hoàn hảo: Được hiểu là hình thức cạnh tranh giữa rất nhiều người bán cùng tham gia trên thị trường. nhưng không có người nảo đủ ưu thể để có thể khống chế giá cả hay thị phần trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng mức, không khác nhau nhiều về quy cách, chất lượng hay mẫu mã sản phẩm. Khi đó, để tạo được lợi thể trên thị trường, dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh, thì người bán tham gia thị trường này bắt buộc phải tìm cách giảm thiểu chỉ phí, hạ giá thành hoặc tạo sự khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thú cạnh tranh.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: Theo hình thức nảy, những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau, tức là các sản phẩm khác nhau về mảng mẫu mã, chất lượng cho nên để tạo được lợi thế trong cạnh tranh , người bán cần phải sử dụng đến các công cụ hỗ trợ bán hàng như: Các công tác truyền thông - quảng cảo, tạo chương trình khuyến mại, cung cắp dịch vụ phụ, dịch vụ bán hàng, hậu mãi, bảo hành tốt, chăm sóc khác hảng. Trong giai đoạn nẻn kinh tế mở như hiện nay thì đây là loại hình cạnh tranh phỏ biển nhất. + Cạnh tranh độc quyền: Đây là thị trường mà có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, mà giá cả của sản phẩm, địch vụ đó trên thị trưởng là do họ quyết định mả không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu do họ độc quyển sản phẩm, người mua không có sự lựa chon nao khác, -Căn cứ theo phạm vì ngành: nghề kính tế: Cạnh tranh được phân thành hai loại. + Cạnh tranh trong ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt dong trong cùng một ngành nghề.
Họ sản xuất ra củng một loại hàng hoá sản phẩm dịch vụ cung ứng trên thị trường. Sự cạnh tranh trong ngảnh làm cho chất lượng sản phẩm được cải thiện, mẫu mã không ngừng thay đổi, đồng thời là động lực thúc đây các doanh nghiệp phát triển, nâng cao đổi mới về công nghệ và ứng đụng trình đã + Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa ngành này với ngành khác, giữa các doanh nghiệp, các chủ thể trong các ngành kính tế với nhau, nhằm thu được lợi ích cao nhất. Trong quá trình này có sự phân bổ lợi ích một cách tự nhiên giữa các ngành nghề, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. tr 32] ~ Thứ năm: Căn cứ vào các phương thức, thủ đoạn trong cạnh tranh, ta có thẻ chia cạnh tranh thành hai loại hình cạnh tranh như sau: + Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh đúng luật pháp, phủ hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng.
công bằng và công khai.[8, tr 32] + Cạnh tranh không lành mạnh: là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của pháp luật, làm trái với những chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án; cụ thé: cổ ý gây tổn hại về sản phẩm cho đối thú, trốn thuế, buôn lậu, móc ngoặc, cỗ ý làm trái với quy luật chuẩn mực xã hội, cố ý làm trái với các quy định luật pháp vv. Lợi th cạnh tranh, ~ Lợi thế cạnh tranh: Là những giá trị, những tiện ích mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chỉ phí dùng để tạo ra nỏ. Giá trị mà khách hàng sẵn sảng chỉ trả, và cân trở việc để nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn 1a phát sinh một gid cao hơn. tr 34] Những chủ thể tham gia cạnh tranh trên thị trường đều cỏ những lợi thể riêng, có một hoặc nhiều ưu thế nỗi trội riêng biệt so với các đối thủ cạnh tranh, nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh tranh.
Ưu thế này có thể dẫn đến chất lượng, chỉ phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản phẩm/dịch vụ của đối thủ. Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỉ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tý lệ bình quân trong ngành. Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bèn vững khi nó có thể duy trì thị phần, tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dai, 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4.
Khải niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệ p Quan niệm của M.Porer cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chinh: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thư lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước (8, tr 65}. Đây là quan niệm chính diện, theo đó, các yếu tổ như sự chiểm lĩnh thị phần, khả năng duy trì phát triển, mức lợi luận được coi làm thước đo của năng lực cạnh tranh. Mở rộng thị phan và gia ting lợi nhuận chính là mục tiêu của việc nâng cao. năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
điề không giải thích được cách thức doanh nghiệp duy trì, mở rộng thị phân và tăng lợi nhuận.Samuelson cho rằng: "Măng tực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với các đối thủ khác trong việc thoá mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình "[II, tr 65]. Quan niệm này khả hợp lý, vì nó đã gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với các yếu tố nội tai của doanh nghiệp, thể hiện những lợi thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác. Như vậy, việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải trong mỗi quan hệ so sánh doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh. Quan niệm này cũng chỉ rõ nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng cần phải tính đến và trên cơ sở đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng mà doanh nghiệp thu được những lợi ích ngày cảng lớn.TS Ngô Kim Thanh, năng lực cạnh tranh được khái niệm như sau: “Măng lực cạnh tranh là toàn bộ những khả năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trưởng cạnh tranh một cách lâu dài.[12, tr 59] Để tên tại trên thị trường thì doanh nghiệp cần có những vị thế nhất định, ưu thể nhất định về sản phẩm, hoặc địch vụ.
Chí khi có sự khác biệt về chất lượng. mẫu mã sản phẩm dịch vụ, củng với những hoạt động bổ trợ như bán hàng. khuyến mãi, hậu mãi, doanh nghiệp sẽ tạo được nên tắng khách hảng truyền thống, thu hút khách hàng mới và dân dân chiếm lĩnh được thị phần. Trên nhiễu góc độ khác nhau cũng có nhiễu quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cụ thể, có quan điểm gắn khả năng cạnh tranh với ưu thể của sản phẩm mã đoanh nghiệp cỏ trên thị trường, cũng có quan điểm lại gắn khả năng cạnh tranh với vị trí định vị của doanh nghiệp trên thị trường.