chương 1, tác giả đã phân tích đánh giá được các công cụ cạnh tranh của công ty dệt may trên thị trường nội địa, đưa ra điểm mạnh, điểm yếu và các biện pháp công ty đã thực hiện. Vấn đề khá thành công trong phần này là tác giả đã đi sâu phân tích được những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty mà đặc biệt là đối thủ cạnh tranh. Đây là những nội dung có sự gắn kết tốt giữa phần cơ sở lý luận với phân tích thực trạng, từ đó làm rõ được thực trạng cạnh tranh của công ty Trong chương 3, luận văn đã đưa ra được phương hướng phát triển ngành dệt may đến năm 2020 nói chung và định hướng phát triển công ty cổ phần Dệt mùa 8 đông đến năm 2015 nói riêng. Đồng thời luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp như đa dạng hóa sản phẩm, thiết lập mạng lưới cung ứng để đảm bảo vững chắc nguyên luận đầu vào cho sản xuất, củng cố, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới phân phối,.
Luận văn đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống, đánh giá lại năng lực của công ty trong bối cảnh mới và tìm ra các giải pháp để áp dụng phù hợp với thực tế hiện thời của công ty. Do vậy, luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, kết cấu hợp lý, có nhiều số liệu, thông tin khá phong phú. Luận văn là một công trình nghiên cứu công phu. Tuy nhiên, do tác giả nghiên cứu về công ty với đặc thù là hàng dệt nên có nhiều khác biệt so với hàng may mặc.
“ Tổng quan về ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam” – tác giả TS. Trần Văn Huynh – Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam (báo cáo của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam ngày 05/11/2008). Bài viết khái quát được tiềm năng khoáng sản dùng để sản xuất vật liệu xây dựng ở Việt Nam, tình hình sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây dựng trong những năm qua, dự báo nhu cầu và xu hướng xây dựng và sử dụng nguyên vật liệu đến năm 2020. Bài viết chỉ cung cấp cho độc giả cái nhìn khái quát về tổng thể nguyên vật liệu xây dựng thô.
Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra sản phẩm bê tông thương phẩm và những sản phẩm làm sẵn là xu hướng tiêu dùng của ngành xây dựng trong tương lai. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN Với đề tài luận văn: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Bê tông, Xây dựng A&P” tác giả muốn đi sâu tìm hiểu về thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty đồng thời rút ra các kết luận để làm cơ sở đưa ra các giải pháp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Bê tông, Xây dựng A&P đồng thời so sánh các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty với các đối thủ cạnh tranh từ đó rút ra những thành tựu và những vấn đề còn hạn chế. Để có cơ sở lý thuyết tác giả sẽ hệ thống lại một số vấn đề lý luận để thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Nguồn số 9 liệu phân tích sẽ được thu thập từ các phòng ban của công ty, các tài liệu thống kê, báo cáo đã được công bố trên các phương tiện truyền thông. Số liệu được thu thập trong 5 năm từ năm 2008 đến 2012. Các số liệu này sẽ được lập thành bảng biểu và so sánh với nhau để đưa ra kết luận. Do sản phẩm vữa khô trộn sẵn còn khá mới mẻ trên thị trường Việt Nam nên cũng chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm này, đồng thời cũng chưa có đề tài nào viết về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Bê tông, Xây dựng A&P.
Vì vậy, luận văn “ nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Bê tông, Xây dựng A&P” là đề tài duy nhất từ trước đến nay, không có sự trùng lặp với các đề tài nghiên cứu khác. Đề tài này cũng phù hợp với chuyên ngành học của tác giả do vậy, tác giả có đủ kiến thức chuyên môn để thực hiện nghiên cứu luận văn này. 10 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH 2.
Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia. Khái niệm chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân Theo Từ điển Kinh tế chính trị học, cạnh tranh là cuộc đấu tranh có tính chất đối kháng giữa những người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
- Theo Từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh là hoạt động tranh nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau. - Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo. - Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó.
11 - Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau: - Phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận.
Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. - Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và ở trên thị trường. - Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh).
Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nước) Cạnh tranh trong kinh tế giữa các doanh nghiệp là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp để giành lấy phần thắng, phần hơn 12 về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trình kinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng và bền vững. Phân loại cạnh tranh Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại: 2. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường Cạnh tranh được chia thành 3 loại: - Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất, giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường.
Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần. - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc canh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế Cạnh tranh được phân thành hai loại: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành : Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ.
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển. - Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này, có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.