CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cạnh tranh Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao. và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh.
Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh và gắn với mọi chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của các nhà khoa học. 8 Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn “Các hoạt động hạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín thác vì người tiêu dùng (Ấn Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức, biện pháp khác nhau”.
Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, Ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá. Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung. Ở Việt Nam, đề cập đến “cạnh tranh là gì” một số nhà khoa học cho rằng, cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa – dịch vụ (mua và bán). Mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố “đầu vào” trong chu trình sản xuất – kinh doanh và nâng cao giá “đầu ra”, sao cho giành được mức lợi nhuận cao nhất với mức chi phí hợp lý nhất.
Có các quan niệm cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác”(Theo nhóm tác giả cuốn “nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”) Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường. Khả năng cạnh tranh Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì Khả năng cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế. Khả năng cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của DN.
Quan niệm này đồng thuận với các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach 9 (1989), Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế của Việt Nam. Trong khi đó, Nguyễn Minh Tuấn (2010) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao, đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững. Theo quan điểm của Michael Porter (1990), Khả năng cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp có Khả năng cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như khả năng phát triển bền vững cho tổ chức và tạo ra thu nhập cao cho người lao động.
Michael Porter cũng nhận định, năng suất lao động là thước đo duy nhất để đo lường Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao. Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: Khả năng cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Khả năng giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có Khả năng cạnh tranh cao.
Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Theo Humbert Lesca, Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, Khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Hoặc Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất. Những định nghĩa trên cho thấy, Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp.
Một doanh 10 nghiệp được coi là có Khả năng cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Từ các quan điểm trên, ta có thể hiểu Khả năng cạnh tranh như sau: Khả năng cạnh tranh là những thế mạnh, những ưu điểm của chủ thể này có nhưng đối thủ cạnh tranh không có. Khả năng cạnh tranh thường xuất hiện trong mối quan hệ kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh với nhau về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó từ đó tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ tốt hơn để thu hút người tiêu dùng.
Khả năng cạnh tranh là lợi thế của đơn vị kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh về việc làm, tạo ra sản phẩm hàng hóa, tập trung lực lượng lao động dồi dào, thu nhập cao hơn so với các đơn vị kinh doanh khác trên cùng thị trường vào cùng thời điểm. Khả năng cạnh tranh là thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Khả năng cạnh tranh phải so với đối thủ cạnh tranh cụ thể, sản phẩm hàng hóa cụ thể trên cùng thị trường và cùng thời gian. Khả năng cạnh tranh là “kim chỉ nam” để doanh nghiệp tạo ra động lực tốt nhất thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và có thể hiểu là yếu tố quan trọng khẳng định hiệu quả công việc và năng suất lao động trong nền kinh tế.
Có thể thấy rằng các quan niệm đứng trên các góc độ khác nhau nhưng chung quy lại đều nói tới việc chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận. Tóm lại, có thể khái quát “khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc huy động, sử dụng có hiệu quả các năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, biến chúng thành những lợi thế cạnh tranh và sử dụng chúng như những công cụ cạnh tranh nhằm đạt được vị thế cạnh tranh nhất định. Khả năng cạnh tranh sản phẩm. Hiện nay khái niệm về Khả năng cạnh tranh sản phẩm vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau và chưa thống nhất, các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về Khả năng cạnh tranh sản phẩm bởi lẽ đây là một khái niệm có tính phụ thuộc, tính tương đối và tính động.
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (Hội thảo khoa học 2010) thì Khả năng cạnh tranh 11 của sản phẩm được hiểu là Khả năng mà sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tốt hơn và cung ứng giá trị cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh, giành được thị trường của sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh. Các giá trị cung ứng cho người tiêu dùng phải là các giá trị có tính riêng biệt và đối thủ cạnh tranh không dễ dàng sao chép và bắt chước được. Các yếu tố cấu thành nên Khả năng cạnh tranh sản phẩm gồm chất lượng, kỹ thuật, mẫu mã bao bì, kiểu dáng của sản phẩm, thương hiệu… Năng lưc cạnh tranh sản phẩm là sự biểu hiện “tính trội” của sản phẩm về chất lượng, giá cả, kiểu dáng, mẫu mã và hình thức lưu chuyển của nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó (PGS.TS Nguyễn Xuân Quang, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009).TS Nguyễn Viết Lâm (2014), “Bàn về phương pháp xác định Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 208, Khả năng cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ là khả năng trao đổi sản phẩm, thoả mãn nhu cầu của khách hàng so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh một sản phẩm/dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế so sánh của nó.