CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm và các hình thức tự học trong đào tạo tín chỉ Một số khái niệm về “Tự học” Theo từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo” [11]. Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để lĩnh hội kiến thức. Người tự học hoàn toàn làm chủ về thời gian, nội dung học tập [16]”.
Theo tác giả Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó Giáo sư Hà Thị Đức thì: “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở Đại học. Đó là một hình thức nhận thức của các nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình sách giao khoa đã được quy định [9]”. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc tự học đó sẽ tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [24].
Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo cần: Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập 12 trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học [3]. Từ những quan niệm ở trên về tự học, có thể thấy điểm chung của tự học là quá trình do chính bản thân người học chủ động, tự giác bằng chính nội lực, năng lực trí tuệ của bản thân nhằm chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng cũng như giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự điều khiển trực tiếp, gián tiếp của giảng viên. Hoạt động tự học của sinh viên Đại học mang đầy đủ các đặc điểm của tự học nói chung nhưng cũng phản ánh đặc trưng của hoạt động học tập ở Đại học, đó là tính tự chủ cao của người học. Vai trò của tự học trong đào tạo tín chỉ Hiện nay, đào tạo theo hình thức tín chỉ là phương pháp đào tạo có nhiều ưu thế và được áp dụng phổ biến trong hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng.
Tuy nhiên, để việc áp dụng hình thức này có hiệu quả, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi trường là một vấn đề khó đối với cán bộ quản lý, giảng viên và cả sinh viên. Với hình thức đào tạo này sinh viên trở thành trung tâm, ngoài những kiến thức giảng viên truyền đạt trên lớp thì sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. Vì vậy, việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quan trọng, là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Đại học. Bên cạnh đó, góp phần nâng cao hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc tiếp thu và hiểu tri thức mới, rèn cho sinh viên cách độc lập trong suy nghĩ và giải quyết các vấn đề khó khăn trong quá trình học, giúp sinh viên tự tin hơn trong lựa chọn cuộc sống của mình.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ dòi hỏi sinh viên phải hình thành kỹ năng tự học và tự nghiên cứu, người học phải luôn tự ý thức được việc hoạch định nội dung học tập và quản lý quá trình tự học của mình, cần phải biết nắm vững mọi quy trình, quy định, biết cách tự thích nghi và năng lực tự học cao, tự xây dựng 13 cho mình kế hoạch học tập riêng, phù hợp với năng lực học tập, hoàn cảnh gia đình và sở thích cá nhân. Do vậy, người học phải theo dõi, nắm bắt lộ trình tiến độ học tập, quyết định cách thức học tập để phát huy khả năng tự học. Tóm lại, tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu của sinh viên, qua đó góp phần giúp sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân. Mặt khác, khi tự học sinh viên có thể chủ động được quỹ thời gian, có thể học bất cứ lúc nào mà không bị ràng buộc.
Từ đó giúp sinh viên nắm kiến thức vững chắc và có thể hiểu sâu và nhớ kỹ hơn các vấn đề. Ngoài ra, việc tự học còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác làm việc theo nhóm, khi đó sinh viên có thể thể hiện tính sáng tạo trong tư duy và linh hoạt nhạy bén trong suy nghĩ, điều quan trọng hơn hết là sinh viên có thể đi sâu hơn so với thực tế nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích tình hình và đưa ra quyết định, đây là một yếu tố cần và đủ để sau này khi rời khỏi ghế nhà trường sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi làm việc ở môi trường thực tế. Đặc điểm của hình thức tự học trong đào tạo tín chỉ Bản chất của sự học là tự học, cốt lõi của dạy học là dạy việc học, kết quả của người học là tỷ lệ thuận với năng lực tự học của người học. Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời.
Tuy nhiên, trong các phương thức đào tạo khác nhau, hoạt động này có nét đặc thù riêng. Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong niên chế so với học tín chỉ được thể hiện như sau: Thứ nhất, trong phương thức đào tạo theo niên chế, sinh viên tuân thủ theo chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khóa học căn cứ vào thời khóa biểu. Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân sinh viên. Sinh viên có nhiệm vụ và quyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp với điều kiện của mình.
Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập, xác định thời gian, 14 phương tiện, biện pháp thực hiện mục tiêu học tập đã đề ra trong kế hoạch học tập đó. Khi đó sinh viên phải ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để quá trình học tập đạt hiệu quả. Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức đào tạo tín chỉ qui định hoạt động tự học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là nội dung quan trọng đánh giá kết quả học tập. Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học.
Trong ba hình thức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn; sinh viên nghe giảng, thực hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên). Hình thức thứ ba có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nội dung học tập để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành). Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Nếu hoạt động tự học trong dạy học theo niên chế mang tính chất tự nguyện thì phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ coi tự học là một thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập của sinh viên.
Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành trên lớp sinh viên cần phải có 1 hay 2 giờ chuẩn bị ở nhà. Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên. Thứ ba, nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thành phần chính: Phần nội dung bắt buộc phải biết được giảng trực tiếp trên lớp; phần nội dung nên biết có thể không được giảng trực tiếp trên lớp, giảng viên có trách nhiệm hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp; phần nội dung có thể biết dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm,… và các hoạt động khác liên quan đến môn học. Như vậy, kiến thức của môn học được phát triển thông qua những tìm tòi của người học dưới sự hướng dẫn của giảng viên.
Nếu sinh viên không tự học thì chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học và như vậy đồng nghĩa với việc sinh viên không đạt được yêu cầu của môn học. 15 Thứ tư, khác biệt với đào tạo theo niên chế, trong học chế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra đánh giá thường xuyên thông qua các bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận,… trong suốt quá trình học. Như vậy, điều chúng ta cần khẳng định là trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hoạt động tự học của sinh viên trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thể. Các hình thức tự học trong đào tạo tín chỉ Để hoạt động tự học của sinh viên có hiệu quả, sinh viên phải biết lựa chọn những hình thức tự học phù hợp với năng lực và điều kiện có của bản thân.
Hình thức 1: Tự học độc lập Đây là hình thức tự học cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người học, dựa trên nền tảng say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có vốn tri thức sâu rộng.