CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÊ HIỆU QUẢ, QUẢN LÝ, NGHIỆP VỤ KINH DOANH I. Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả và quản lý. Khái niệm và ý nghĩa.
Hiệu quả là thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.1 Nếu kí hiệu : K là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu đo bằng các đơn vị khác nhau. C là chi phi bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau E là hiệu quả. E=K-C (1) Hiệu quả tuyệt đối. 1 [1, trang 5] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B K E (2) Hiệu quả tương đối.
C Một cách chung nhất, kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Hiệu quả có ý nghĩa dùng làm chỉ tiêu phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động. Các nguyên tắc xác định hiệu quả2. Để đánh giá chính xác hiệu quả của một phương án nào đó cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây: 1.
Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả. Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được xác định trên cơ sở mục tiêu. Mục tiêu khác nhau tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau, mục tiêu thay đổi, tiêu chuẩn hiệu quả thay đổi. Tiêu chuẩn hiệu quả được xem như là thước đo để thực hiện các mục tiêu.
Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mục tiêu. Phương án mà có hiệu quả cao nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất. Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích Theo nguyên tắc này, một phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích. Bao gồm lợi ích của chủ doanh nghiệp và lợi ích của xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích xã hội, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
Vì lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội được xem xét trong phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân. Theo nguyên tắc "lợi ích", hiệu quả tài chính không thể thay thế cho hiệu quả kinh tế quốc dân và ngược lại trong việc quyết định cho ra đời một phương án hành động của doanh nghiệp. 2 [1, trang 17] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B Về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài : không thể hy sinh lợi ích lâu dài để lấy lợi ích trước mắt. Kết hợp đúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài được coi là phương án có hiệu quả.
Trong quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích lâu dài là cơ bản. Về kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cũng như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần: việc phân tích hiệu quả kinh tế các phương án cần đặt trong mối quan hệ phân tích các lợi ích khác mà phương án mang lại. Bất kỳ một sự hy sinh lợi ích nào đều giảm hiệu quả chung của phương án đó. Trong đại bộ phận các trường hợp, lợi ích xã hội đóng vai trò quyết định.
Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học Để đánh giá hiệu quả các phương án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức là phải kết hợp giữa phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính. Không thể thay thế phân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tích định lượng chưa đủ đảm bảo tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủ thể quan tâm. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi tính toán hiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện. Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế Theo nguyên tắc này những phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu.
Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác. Khái niệm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động. Chức năng của quản lý4 Chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau để quản lý các hoạt động của đối tượng quản lý.
Những loại công việc quản lý này gọi là các chức năng quản lý. Như vậy, các chức năng quản lý là những loại công việc quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối được hình thành trong quá trình chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý. Mục đích của việc phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà quản lý phải thực hiện những công việc gì trong quá trình quản lý. Hiện nay, các chức năng quản lý thường được xem xét theo hai cách tiếp cận: theo quá trình quản lý và theo hoạt động của tổ chức.
Các chức năng quản lý phân theo quá trình quản lý Theo cách tiếp cận này, mọi quá trình quản lý đều được tiến hành theo những chức năng cơ bản: - Lập kế hoạch. - Lãnh đạo - Kiểm tra Những chức năng này được coi là chung nhất, phổ biến nhất đối với mọi nhà quản lý, không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội, dù ở bất kỳ quốc gia nào từ những nước phát triển đến những nước kém phát triển. Tất nhiên, phổ biến hay chung nhất nhưng 3 [2, trang 23,25] 4 [2. trang 31] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B không có nghĩa là đồng nhất.
Ở những xã hội khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, những tổ chức khác nhau, những cấp bậc khác nhau, có sự khác nhau về mức độ của tầm quan trọng, sự quan tâm cũng như phương thức thực hiện các chức năng chung này. Các chức năng quản lý phân theo hoạt động của tổ chức Còn theo cách tiếp cận này, tập hợp các hoạt động của tổ chức được phân chia thành những lĩnh vực khác nhau mang tính độc lập tương đối và gắn liền với chúng là các chức năng quản lý cơ bản sau : - Quản lý lĩnh vực marketing - Quản lý lĩnh vực nghiên cứu và phát triển - Quản lý sản xuất - Quản lý tài chính - Quản lý nguồn nhân lực - Quản lý chất lượng - Quản lý các dich vụ hỗ trợ cho tổ chức: thông tin, pháp lý, đối ngoại. Những chức năng quản lý theo hoạt động của tổ chức còn được gọi là các lĩnh vực quản lý. Trên đây chỉ là những chức năng quản lý cơ bản theo hoạt động của tổ chức.
Tuỳ vào lĩnh vực, địa bàn hoạt động, trong các tổ chức có thể tồn tại những chức năng khác nữa. Phân loại chức năng quản lý theo hoạt đông của tổ chức thường là cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức. Và như vậy lĩnh ỵưc quản lý được hiểu như các hoạt động quản lý được sắp xếp trong những bộ phận nào đó của cơ cấu tổ chức. ở các bộ phận này có các nhà quản lý và liên quan đến việc ra các quyết định quản lý.
Vai trò của quản lý5 Khi một cá nhân hoạt động độc lập riêng lẻ không có sự liên kết giữa các cá nhân khác dẫn đến hiệu quả hoạt động và làm việc không cao. Như 5 [2, trang 34] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B vậy, để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cũng như bảo đảm cuộc sống an toàn cho cộng đồng xã hội ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn với tính phức tạp ngày càng cao hơn, đòi hỏi sự phân công, hợp tác để liên kết những con người trong tổ chức. Dạng lao động đặc biệt - lao động quản lý hình thành từ chính sự phân công chuyên môn hoá, hiệp tác hoá lao động.
Quản lý giúp các tổ chức và các thành viên của nó thấy rõ mục tiêu và hướng đi của mình. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đối với mọi người và tổ chức, giúp tổ chức thực hiện được sứ mệnh của mình, đạt được những thành tích ngắn hạn và dài hạn, tồn tại và phát triển không ngừng của tổ chức. Bốn yếu tố của đầu vào là nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin để tạo ra các sản phẩm đầu ra. Kết quả của sản phẩm đầu ra này phụ thuộc hoàn toàn vào việc sử dụng, kết hợp các yếu tố đầu vào là như thế nào.
Quản lý sẽ phối hợp tất cả các nguồn lực của tổ chức thành một chỉnh thể, tạo nên tính trồi để thực hiện mục đích của tổ chức với hiệu quả cao. Mục đích của quản lý là đạt giá trị gia tăng cho tổ chức tạo ra các sản phẩm đầu ra với hiệu quả cao nhất. Các tổ chức tồn tại và hoạt động trong một môi trường luôn luôn biến đổi nhanh. Chính những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ đối với mỗi tổ chức.
Quản lý giúp các tổ chức thích nghi được với môi trường, nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội và giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của các nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường. Không những thế, quản lý tốt còn làm cho tổ chức có được những tác động tích cực đến môi trường, góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường, tạo ra một môi trường phát triển bền vững.