LỜI MỞ ĐẦU Là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, Bưu chính Viễn thông có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Không một ngành nào, một lĩnh vực nào lại không có nhu cầu về thông tin Bưu chính Viễn thông. Ngành BCVT phát triẻn sẽ làm tăng vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, tăng cường các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá quốc tế. Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá BCVT càng trở nên vô cùng quan trọng. Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, mạng BCVT đã phát triển rất mạnh mẽ, các dịch vụ Bưu chính Viễn thông - Phát hành báo chí trên địa bàn đã không ngừng phát triển, phục vụ có hiệu quả nền kinh tế đất nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Dịch vụ Bưu chính - Viễn thông phục vụ ngày càng đa dạng, các cơ sở Bưu điện đã được đưa đến gần người dân hơn và đã đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng khách hàng Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo của Nhà nước và vì thế mà mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là thực hiện kế hoạch Nhà nước giao. Nhưng ngày nay trong cơ chế thị trường, địa vị độc tôn về kinh doanh Bưu chính Viễn thông không còn tồn tại, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt và gay gắt của các tổ chức hoạt động kinh doanh các dịch vụ Bưu Chính - Viễn thông - Phát hành báo chí trong và ngoài nước đem đến cho ngành Bưu chính Viễn thông những thách thức to lớn đòi hỏi phải nhanh chóng sửa đổi tác phong kinh doanh quan liêu đã hình thành và tồn tại lâu năm làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong cơ chế này, các doanh nghiệp phải tự ra quyết định kinh doanh, tự hạch toán lỗ, lãi. Do vậy, mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng nhất, mang tính sống còn đối với doanh nghiệp vµ nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B Bưu điện Trung tâm 2 là đơn vị trực thuộc Bưu điện Thành phố Hà Nội. Từ khi thành lập đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và các cơ quan Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện nay với chính sách mở cửa, hội nhập của Nhà nước, sự cạnh tranh đang diễn ra gay gắt đối với các ngành, các lĩnh vực không ngoại trừ BCVT nên Bưu điện Trung tâm 2 cũng như Bưu điện thành phố Hà nội đang đứng trước những thách thức và khó khăn to lớn: thị phần bị chia sẻ, yêu cầu của khách hàng ngày một khắt khe hơn.Thực tế đó đòi hỏi Bưu điện Trung tâm 2 phải có những giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả cao hơn. Xuất phát từ vấn đề bức thiết đó, qua quá trình nghiên cứu học tập ở trường và thực tập tại Bưu điện Trung tâm 2, Em đã chọn việc nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lý các dịch vụ kinh doanh tại Bưu điện Trung tâm 2 – Bưu điện thành phố Hà Nội” làm đề tài thực tập chuyên ngành và luận văn tốt nghiệp. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các nghiệp vụ kinh doanh của Bưu điện Trung tâm 2 và những vấn đề quản lý các lĩnh vực Bưu chính viễn thông tập trung vào ba lĩnh vực chính : Bưu chính, Viễn thông và Phát hành báo chí. Chuyên đề sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp qui nạp, phương pháp phủ định biện chứng. Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận có ba chương: Chương I:Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả, quản lý, nghiệp vụ kinh doanh. Chương II: Thực trạng công tác quản lý nghiệp vụ kinh doanh lĩnh vực bưu chính tại Bưu điện Trung tâm 2 – Bưu điện thành phố Hà Nội. Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dịch vụ kinh doanh tại Bưu điện Trung tâm 2 – Bưu điện thành phố Hà Nội. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÊ HIỆU QUẢ, QUẢN LÝ, NGHIỆP VỤ KINH DOANH I. Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả và quản lý. Khái niệm và ý nghĩa. Hiệu quả là thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.1 Nếu kí hiệu : K là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu đo bằng các đơn vị khác nhau. C là chi phi bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau E là hiệu quả. E=K-C (1) Hiệu quả tuyệt đối. 1 [1, trang 5] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B K E (2) Hiệu quả tương đối. C Một cách chung nhất, kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Hiệu quả có ý nghĩa dùng làm chỉ tiêu phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động. Các nguyên tắc xác định hiệu quả2. Để đánh giá chính xác hiệu quả của một phương án nào đó cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây: 1. Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả. Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được xác định trên cơ sở mục tiêu. Mục tiêu khác nhau tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau, mục tiêu thay đổi, tiêu chuẩn hiệu quả thay đổi. Tiêu chuẩn hiệu quả được xem như là thước đo để thực hiện các mục tiêu. Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mục tiêu. Phương án mà có hiệu quả cao nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất. Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích Theo nguyên tắc này, một phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích. Bao gồm lợi ích của chủ doanh nghiệp và lợi ích của xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích xã hội, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Vì lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội được xem xét trong phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân. Theo nguyên tắc "lợi ích", hiệu quả tài chính không thể thay thế cho hiệu quả kinh tế quốc dân và ngược lại trong việc quyết định cho ra đời một phương án hành động của doanh nghiệp. 2 [1, trang 17] Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B Về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài : không thể hy sinh lợi ích lâu dài để lấy lợi ích trước mắt. Kết hợp đúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài được coi là phương án có hiệu quả . Trong quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích lâu dài là cơ bản . Về kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cũng như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần: việc phân tích hiệu quả kinh tế các phương án cần đặt trong mối quan hệ phân tích các lợi ích khác mà phương án mang lại. Bất kỳ một sự hy sinh lợi ích nào đều giảm hiệu quả chung của phương án đó. Trong đại bộ phận các trường hợp, lợi ích xã hội đóng vai trò quyết định . Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học Để đánh giá hiệu quả các phương án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức là phải kết hợp giữa phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính. Không thể thay thế phân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tích định lượng chưa đủ đảm bảo tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủ thể quan tâm . Nguyên tắc này cũng đòi hỏi tính toán hiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện . Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế Theo nguyên tắc này những phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu. Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác. Khái niệm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 Nguyễn Trung Hải - Quản lý kinh tế 44B Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động. Chức năng của quản lý4 Chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau để quản lý các hoạt động của đối tượng quản lý. Những loại công việc quản lý này gọi là các chức năng quản lý. Như vậy, các chức năng quản lý là những loại công việc quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối được hình thành trong quá trình chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý. Mục đích của việc phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà quản lý phải thực hiện những công việc gì trong quá trình quản lý. Hiện nay, các chức năng quản lý thường được xem xét theo hai cách tiếp cận: theo quá trình quản lý và theo hoạt động của tổ chức . Các chức năng quản lý phân theo quá trình quản lý Theo cách tiếp cận này, mọi quá trình quản lý đều được tiến hành theo những chức năng cơ bản: - Lập kế hoạch.