CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING MIX TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Marketing Mix là một chủ đề khá quen thuộc đối với các học giả ở các nước phát triển. Có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu các nội dung cụ thể của Marketing Mix, áp dụng trong nhiều lĩnh vực chủ yếu là du lịch giải trí, ngân hàng còn trong lĩnh vực bảo hộ lao động thì chưa thấy nhiều bài nghiên cứu.
Trần Thanh Tùng (2017) đã khái quát được những cơ sở lý luận về hoạt động Marketing Mix. Nêu được thực trạng về hoạt động Marketing Mix trong công ty cổ phần L.Q JOTON và những đánh giá, phân tích về hoạt động Marketing Mix, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing Mix. Đồng thời luận văn đưa ra những đề xuất giải pháp khắc phục hoàn thiện hoạt động Marketing Mix. Tuy nhiên các giải pháp này chỉ ở mức độ khái quát chưa thực sự cụ thể, thiếu ý tưởng mới và sự đột phá.
Đặng Thị Minh Chi (2021) đã hệ thống hóa được một số vấn đề chung về hoạt động marketing trực tuyến trong doanh nghiệp nói chung. Trông đó, làm rõ khái niêm marketing trực tuyến, các công cụ marketing trực tuyến được sử dụng phổ biến hiện nay. Luận văn cũng đã đi sau phân tích thực trạng hoạt động marketing trực tuyến của Công ty CP nghên cứu và Ứng dựng Thuốc dân tộc, từ đó phân tích, đánh giá những hạn chế cần khắc phục, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với công ty để nâng cao hiệu quả hoạt đọng marketing của Công ty. Nguyễn Hồ Đức (2014) đã đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động marketing tại Công ty Cổ phần sơn Sonata, giúp góp phần cho Công ty nâng cao vị thế của mình trên thị trường sơn.
Vương Văn Nam (2017) , đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về Marketing Mix trong hoạt sản xuất kinh doanh đồ bảo hộ lao động. Nghiên cứu và đánh giá thực trạng tình hình hoạt động Marketing Mix của sản phẩm bảo hộ lao động tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thiên Bằng trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu là phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu về vấn đề Marketing Mix tại công ty. Từ đó phân tích dữ liệu và đưa ra những đánh giá có độ tin cậy cao cho vấn đề nghiên cứu qua các phương pháp xử lý dữ liệu như thống kê, so sánh, dự báo.
Sau khi nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing Mix trong những năm tiếp theo từ 2017 đến 2020. 4 Chu Quang Hưng (2015) đã khái quát được cơ sở lý luận về chiến lược Marketing Mix và các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược Marketing Mix. Phát hiện ra những thành tựu và hạn chế trong chiến lược Marketing Mix của chi nhánh Viettel Đà Nẵng. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược Marketing Mix đã có của chi nhánh Viettel Đà Nẵng và bổ sung mới các chiến lược mà Viettel Đà Nẵng chưa có để giúp cho Chi nhánh Viettel Đà Nẵng đạt được các kế hoạch đặt ra, tăng trưởng được thuê bao và doanh thu giai đoạn 2015-2020.
Bí mật thực sự của internet marketing. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thanh Niên. Nội dung cuốn sách giải đáp thắc mắc cách một cá nhân, tổ chức xây dựng thương hiệu, quảng cáo và bán hàng qua Internet như thế nào? Làm thế nào bạn quyết định hình thức tiếp thị trực tuyến nào phù hợp với doanh nghiệp của bạn? Làm thế nào để triển khai kế hoạch marketing qua Internet với chi phí thấp nhất, lợi nhuận cao nhất? 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Philip Kotler (2007), mô tả những tình huống thực tiễn, thể hiện tính chất của hoạt động marketing hiện đại.
Cuốn sách nêu dẫn chứng, các sự kiện quan trọng hay những cuộc xung đột từ thực tế trong lĩnh vực marketing giúp người đọc hòa nhập được nhịp sống của thế giới marketing. Fang Han (2012), đã thực hiện các phân tích và so sánh giữa các nhà sản xuất khác nhau từ đó xác định được những yếu tố tiếp thị hỗn hợp cần thiết trong hoạt động marketing mix đối với những công ty có liên quan đến lĩnh vực đồ BHLĐ. Đưa ra phương thức sử dụng hiệu quả các hoạt động marketing của những công ty liên quan đến lĩnh vực BHLĐ thông qua 4 công cụ là Product, Price, Place và Promotion. Maina Naftaly Muchiri (2018), nghiên cứu sử dụng marketing 4P trong doanh nghiệp có hiệu quả hơn marketing mix 7P.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc các Công ty nhỏ sử dụng marketing 4P trong doanh nghiệp cho hiệu quả cao hơn do có sự liên kết chặt chẽ. Còn đối với các doanh nghiệp lớn việc sử dụng marketing 7P mang liệu hiệu quả cao hơn. Chai Lee Goi (2009), sử dụng công cụ marketing mix hỗn hợp 4Ps đã là hợp lý hay chưa, liệu có cần thêm các công cụ khác. Bài báo cũng đưa ra những góc nhìn nhiều chiều về việc sử dụng hoạt động marketing Mix 4Ps đồng thời đưa ra so sánh điểm yếu, điểm mạnh của hoạt động Marketing Mix 4Ps với Marketing Mix 7Ps.
Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung, có nhiều nghiên cứu nhìn nhận ở những góc độ khác nhau về nâng cao hiệu quả marketing mix nói chung cũng như trong một doanh nghiệp, nhóm ngành cụ thể. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chính thức nào nghiên cứu về việc nâng 5 cao hiệu quả marketing mix tại Công ty CP tập doàn VIVATEX Việt Nam. Đây là khoảng trống của các nghiên cứu trước đây, tác giả chọn khoảng trống này làm đề tài nghiên cứu ứng dụng tại Công ty CP tập đoàn VIVATEX Việt Nam nhằm đưa ra những giải pháp phát huy những điểm mạnh đồng thời khắc phục những điểm còn hạn chế trong hoạt động marketing mix tại Công ty. Cơ sở lý luận về marketing trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm marketing trong doanh nghiệp Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào hàng (tiếp thị). nghề marketing là nghề đi chào hàng, đi giao hàng, giới thiệu dùng thử sản phẩm (nghề tiếp thị) hoặc marketing thực chất là bản hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy họ quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán được nhiều và bản hết những hàng hóa đã sản xuất ra để thu được tiến về cho người bán. Từ thực tiễn của kinh doanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiểu như trên là sai lầm và là mầm mống của mọi thất bại.
Thực ra, tiêu thụ và hoạt động tiếp thị chỉ là một trong những khâu của hoạt động marketing. Hơn thế nữa, trong hầu hết các trường hợp, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hoá không phù hợp với mong muốn và đòi hỏi của người tiêu dùng, hoặc do chất lượng thấp. hoặc do kiểu dáng kém hấp dẫn, hoặc do giá cả đắt.
kém hấp dẫn so với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh, dù cho người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng, thì việc mua chúng vẫn rất hạn chế. Ngược lại, nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nhu cầu và mong muốn đó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có hiệu quả hơn so với hàng hóa tương tự của đối thủ cạnh tranh thì chắc chắn việc bản những hàng hoá đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Cách làm như thế là biểu hiện của việc thực hành quản trị kinh doanh theo quan điểm của marketing hiện đại. Người ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau về marketing như: Định nghĩa tổng quát về marketing của Phillip Kotler: "Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua việc tạo ra, cung ứng và trao đổi một cách tự do những sản phẩm và dịch vụ có giá trị với người khác".
Định nghĩa từ Hiệp Hội Marketing của Mỹ: “Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện việc thiết kế, định giá, cổ động và phân phối các ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn mục tiêu của cả nhân và tổ chức”, Nói tóm lại, có nhiều cách hiểu về marketing, tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát “Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao 6 đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức nhằm thoả mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi”. Thông thường, người ta cho rằng marketing là công việc của bên bán, nhưng hiểu một cách đẩy đủ thì đôi khi cả bên mua cũng phải làm marketing. Do đó, thường thì trên thị trường bên nào "tích cực" hơn trong việc tìm kiếm cách trao đổi với bên kia, thì bên đó thuộc về phía làm marketing.
Trong bài báo cáo này viết về marketing của bên bản. Chủ thể làm marketing là công ty bán hàng. Vai trò của marketing trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, mỗi công ty là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với môi trường bên ngoài - thị trường.
Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra thường xuyên, liên tục, với quy mô càng lớn thì sức sống và sự trường tồn của cơ thể đó càng mãnh liệt. Ngược lại, sự trao đổi đó diễn ra yếu ớt thì cơ thể đó có sẽ ốm yếu. Sự trao đổi của công ty với môi trường bên ngoài chính là sự trao đổi hàng hóa. Năng lực trao đổi của công ty do chất lượng hoạt động của một chức năng đặc thù quyết định-Chức năng quản trị marketing.
Xuất phát từ mục tiêu tạo ra khách hàng cho công ty chất lượng quản trị marketing sẽ quyết định quy mô khách hàng và, do đó, quy mô trao đổi hay khối lượng tiêu thụ của công ty. Khối lượng tiêu thụ sẽ quyết định doanh số tiêu thụ và mức lỗ, lãi của công ty. Theo lôgích ấy, rõ ràng, trong thời đại cạnh tranh ngày càng gay gắt, marketing sẽ quyết định sự sống còn của mỗi công ty.