chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, các vấn đề liên quan như: Cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian nghiên cứu của đề tài cũng như cấu trúc của đề tài. 4 Thư viện ĐH Thăng Long CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2.
Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán”. Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999: “Doanh nghiệp là các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Luật Doanh nghiệp Việt Nam số 68/2014/QH13 điều 4 khoản 7 được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ.
Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2. Khái niệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều dựa trên các hoạt động khác nhau trong đó chuyên môn hóa. Các hoạt động của doanh nghiệp giúp mang lại năng suất và sự phát triển của công ty.
Mọi doanh nghiệp đều đưa ra sự kết hợp của các chính sách và chương trình để vận hành các hoạt động này một cách suôn sẻ. 5 Hoạt động kinh doanh bao gồm bất kỳ hoạt động nào mà doanh nghiệp tham gia với mục đích chính là tạo ra lợi nhuận. Đây là một thuật ngữ chung bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế được thực hiện bởi một công ty trong quá trình kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh, bao gồm các hoạt động điều hành, đầu tư và tài trợ, đang diễn ra liên tục và tập trung vào việc tạo ra giá trị cho các cổ đông.
Đặc điểm Tại Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được dùng trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Theo quy định trong bộ luật này, hoạt động kinh doanh được quy định cụ thể như sau: Hoạt động kinh doanh có tính chất nghề nghiệp. Hiểu cách khác, các hoạt động kinh doanh sẽ được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và trở thành nguồn thu nhập chính cho người thực hiện. Hoạt động kinh doanh cần được thực hiện một cách độc lập, các chủ thể có thể tự nhân danh mình để tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Đồng thời, họ cũng tự quyết định mọi vấn đề có liên quan và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Hoạt động kinh doanh được thực hiện với mục đích tạo ra lợi nhuận thường xuyên. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh cao, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng và phát triển, đầu tư thêm thiết bị, phương tiện áp dụng công nghệ khoa học, kỹ thuật, nâng cao đời sống người lao động. Khái niệm về kinh doanh “Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư đến sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Khái niệm về hiệu quả “Hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất được xây dựng bằng cách đối chiếu so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí, nguồn lực, thời gian để tạo ra kết quả đó”. Theo quan điểm này, nói đến kết quả sản xuất đó là nói đến mặt lượng của quá trình sản xuất, còn nói đến hiệu quả là nói đến mặt chất của hoạt động sản xuất đó, nó phản ánh trình độ sử dụng, lao động đã hao phí.
Dựa vào cách tiếp cận của mình, Adam Smith (1776) nhận định: “Hiệu quả – Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Theo quan điểm này, việc xác định hiệu quả kinh doanh chỉ đơn thuần dựa vào khả năng tiêu thụ sản 6 Thư viện ĐH Thăng Long phẩm. Quan điểm của Adam Smith đã bỏ qua yếu tố chi phí trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh do đó chưa phân định được rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty.
Trong cuốn Kinh tế học (1948), Paul A. Samuelson đưa ra quan điểm: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Với cách tiếp cận này, tác giả đã nêu lên được đặc tính của khái niệm hiệu quả đó là sử dụng một cách tối ưu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, quan điểm này chưa đưa ra được cách xác định hiệu quả kinh doanh.
Tại Việt Nam, tác giả Phan Quang Niệm (2008) đã đưa ra nhận định: “Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất. SXKD có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả SXKD cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp” “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh” (PGS.
Trương Bá Thanh, ̣(2009), Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Giáo dục). Hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày nay càng trở lên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Các khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh là mô tả mức độ hiệu quả của một công ty tạo ra các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến lượng thời gian và tiền bạc cần thiết để sản xuất chúng. Các công ty hiệu quả tận dụng tối đa các nguồn lực của họ, biến lao động, vật liệu và vốn thành các sản phẩm và dịch vụ tạo ra lợi nhuận cho công ty Từ các khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh trên ta có thể đưa ra khái niệm ngắn gọn như sau: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ tận dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh=(Kết quả kinh doanh)/(Chi phí kinh doanh) Hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo phạm vi tính toán: Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh chia thành hiệu quả kinh doanh tổng quát và hiệu quả kinh doanh thành phần. Hiệu quả kinh doanh tổng quát: Phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của toàn doanh nghiệp. Hiệu quả thành phần: phản ánh trình độ sử dụng từng loại chi phí, nguồn lực riêng biệt như hiệu quả sử dụng các loại chi phí, các nguồn lực như vật tư, lao động, tiền vốn, từng bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp.
để thực hiện một mục tiêu cụ thể. Theo tính chất tác động: Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh được chia thành hiệu quả kinh doanh trực tiếp và hiệu quả kinh doanh gián tiếp. Hiệu quả kinh doanh trực tiếp là hiệu quả do chủ thể thực hiện có tác động trực tiếp ngay đến kết quả khi thực hiện mục tiêu hoạt động của chủ thể. Hiệu quả kinh doanh gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho một đối tượng khác.
Theo quá trình hình thành: Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả trung gian và hiệu quả kinh doanh cuối cùng. Hiệu quả trung gian là khâu trung gian trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Biểu hiện của hiệu quả kinh doanh trung gian là hiệu suất sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, là bước trung gian, tiền đề đánh giá hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh cuối cùng là khả năng sinh lời của doanh nghiệp, một mục tiêu chủ đạo trong hoạt động của doanh nghiệp.