Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử truyền máu và tổ chức cung cấp máu trên thế giới 1. Lịch sử truyền máu trên thế giới Lịch sử truyền máu trong y học được mở ra sau khi nhà bác học người Mỹ gốc Áo là Karl Landsteiner và học trò phát hiện ra hệ nhóm máu ABO [8]. Năm 1913, Reuben Ottenberg nêu vấn đề hoà hợp nhóm máu trong truyền máu và đưa ra sơ đồ truyền máu mang tên ông, từ đây đã khắc phục được tình trạng tử vong do truyền sai nhóm máu [8],[9].
Năm 1921 ở các nước như Anh, Hà Lan và Úc đã thành lập được những trung tâm truyền máu đầu tiên trên thế giới [10]. Tại Liên Xô năm 1929 F.Rưcốp đã giới thiệu công tác truyền máu qua việc tổ chức đội cấp cứu trong quân đội và đề nghị tổ chức một đội quân cho máu tại trạm cấp cứu quân đội [11].Elanxki đề nghị thành lập trung tâm truyền máu ở Leningrat, ông cũng đề cập đến vấn đề tăng cường đội ngũ người cho máu tình nguyện, đồng thời với việc lưu trữ máu tại các trung tâm truyền máu, để rồi từ đây chuyển máu về các cơ sở điều trị [11]. Năm 1939, trên cơ sở rút kinh nghiệm tại Tây Ban Nha, A. Georgiep (Liên Xô cũ) đã nêu ra rằng: “Sự hợp lý nhất của công tác truyền máu là xây dựng được một hệ thống cung cấp, lưu trữ máu tập trung tại một số trung tâm truyền máu, nhiệm vụ của trung tâm này ngoài việc chuẩn bị máu lưu trữ còn phải tổ chức được một lực lượng đông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 đảo người cho máu ngay tại các trung tâm và với sự tham gia của Hội Chữ thập đỏ” [11].
Mollison chỉnh lý dung dịch chống đông ACD, đã tạo điều kiện bảo quản máu lâu dài ở 4C. Đến năm 1952, Walter và Murphy mô tả kỹ thuật lấy máu kín bằng túi polyvinyl, sau đó Gibson và cộng sự phát triển hệ thống lấy máu bằng túi chất dẻo cho phép tách huyết tương ra khỏi máu sau khi để lắng và có bảo quản bằng đông lạnh lâu dài. Đó là điều kiện tốt cho một thời kỳ mới trong bảo quản, sử dụng các thành phần máu trong y học [13],[14]. Mô hình cung cấp máu trên thế giới Truyền máu hiện nay đã phát triển và trở thành chương trình quốc gia của nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đưa việc sản xuất các chế phẩm máu đi vào công nghiệp hoá.
Hệ thống trung tâm truyền máu ở các nước trên thế giới nhìn chung đều theo hình thức “xã hội hoá”, nghĩa là các tổ chức xã hội phối hợp với ngành y tế đứng ra chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện và mở rộng chương trình truyền máu quốc gia. Một số nước giao cho Hội Chữ thập đỏ đứng ra tổ chức thực hiện chương trình truyền máu và cùng với trung tâm truyền máu tiếp nhận, sàng lọc, điều chế các chế phẩm máu và cung cấp máu an toàn cho các bệnh viện. Điển hình cho hình thức này là Úc [15], Bỉ, Phần Lan, Luxemburg [16], Đức [17], Nhật Bản [18], Hàn Quốc [19]… Một số nước lại chỉ do các trung tâm truyền máu khu vực và các cơ sở y tế tổ chức thực hiện như Anh, Pháp, Ý, Canada, Ireland. Xu hướng tập trung hoá Trung tâm máu của các nước trên thế giới hiện nay là giảm bớt sự phân tán các Trung tâm máu nhỏ lẻ và tập trung dần vào những trung tâm lớn để có điều kiện thuận lợi trong việc sàng lọc, điều chế các chế phẩm máu nhằm đảm bảo an toàn và chất lượng hơn.
Cụ thể ở Pháp, những năm 1990 đang từ 60 trung tâm đã giảm xuống còn 22 rồi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trung tâm tiếp nhận, sàng lọc. Ở Mỹ giai đoạn trước 1996 có gần 180 trung tâm, hiện chỉ còn 6 trung tâm làm nhiệm vụ sàng lọc và 32 trung tâm truyền máu đảm bảo cung cấp máu trong toàn quốc. Các nước như Nhật, Hàn Quốc, Hà Lan, Thụy Điển đã giảm bớt các trung tâm truyền máu nhỏ ở các địa phương để tập trung vào các trung tâm lớn hơn [5],[12]. Lịch sử truyền máu và tổ chức cung cấp máu ở Việt Nam 1.
Lịch sử truyền máu ở Việt Nam Trước năm 1954 ở Việt Nam, cơ sở cung cấp máu do quân đội Pháp thành lập, tổ chức đầu tiên tại bệnh viện Đồn Thủy (Quân y viện 108 ngày nay) cung cấp máu cho quân đội Pháp, sau đó là một vài bệnh viện ở Sài Gòn cũng do quân đội Pháp tổ chức và quản lý. Từ năm 1954 sau khi hoà bình được lập lại, quân đội tiếp quản bệnh viện Đồn Thủy và đổi tên là Quân y Viện 108. Năm 1956, Bệnh viện Việt Đức mở khoa lấy máu và truyền máu, tiếp đó nhiều bệnh viện cũng đã tổ chức tiếp nhận máu. Từ năm 1972-1992, nguồn máu thu được chủ yếu là từ người bán máu (trên 90%), phương tiện thu gom máu bằng chai, an toàn truyền máu (ATTM) chủ yếu là làm phản ứng chéo và định nhóm máu hệ ABO, tìm đơn vị máu tương đồng.
Các cơ sở truyền máu chỉ sàng lọc ký sinh trùng sốt rét và xoắn khuẩn giang mai. Một vài cơ sở sàng lọc virus viêm gan B (HBV); truyền máu toàn phần chiếm 100%; nước ta chưa có chương trình quốc gia về ATTM [12]. Tháng 1 năm 1995, chúng ta bắt đầu thay chai bằng túi chất dẻo như quốc tế. Đến năm 1999, đã có 100% đơn vị máu được sàng lọc đủ 5 bệnh nhiễm trùng là virus HIV (HIV), virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV), giang mai và sốt rét tại hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện có sử dụng máu [8],[20].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hình thức tổ chức cung cấp máu ở Việt Nam Từ năm 1994 trở về trước, các bệnh viện đều tự cung, tự cấp máu chưa có người HMTN, nghĩa là nguồn máu phụ thuộc hoàn toàn vào người bán máu và người nhà bệnh nhân. Tổ chức cung cấp máu thường manh mún, bệnh viện nào có nhu cầu sử dụng máu là tiếp nhận, lưu trữ nên chất lượng máu không được đồng đều, hiện tượng thiếu máu xảy ra thường xuyên và trầm trọng [21]. Từ năm 1994 đến năm 2005, ở Việt Nam vẫn còn 101 cở sở truyền máu cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố và có khoảng 550 cơ sở cấp huyện.
Tổ chức cơ sở truyền máu nhỏ lẻ, nằm rải rác trong hệ thống các bệnh viện, trang thiết bị lạc hậu, thiếu cán bộ chuyên khoa, tổ chức tiếp nhận máu với số lượng nhỏ. Nguồn người hiến máu chủ yếu là từ người cho máu lấy tiền, ATTM bị đe doạ, chi phí cho một đơn vị máu cao [5]. Vấn đề sử dụng máu và chế phẩm máu tại bệnh viện chưa hợp lý và còn thiếu an toàn, chỉ định và sử dụng máu toàn phần trong điều trị còn chiếm tỷ lệ cao, các quy trình truyền máu lâm sàng còn chưa đảm bảo, còn xảy ra tình trạng thiếu hoặc thừa máu ở một số thời điểm trong năm [5],[21]. Từ 2005 đến nay, bước đầu chúng ta đã tập trung hoá được một số trung tâm truyền máu và xây dựng các trung tâm truyền máu khu vực (TTTMKV), những trung tâm này trở thành những cơ sở cung cấp máu lớn, chịu trách nhiệm cung cấp máu cho các bệnh viện, các tỉnh mà trung tâm bao phủ.
Các cơ sở truyền máu nhỏ thuộc diện bao phủ của TTTMKV đã không còn tổ chức tiếp nhận, sàng lọc, điều chế các sản phẩm máu mà chỉ tập trung vào lưu trữ, phát máu an toàn và truyền máu lâm sàng hợp lý và hiệu quả [5],[22]. Bước đầu chúng ta đã xây dựng được phong trào HMTN phát triển bền vững, Ban chỉ đạo vận động HMTN cấp quốc gia và các cấp tỉnh, huyện. đã được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thành lập, công tác tổ chức vận động hiến máu được thực hiện một cách hiệu quả, đã duy trì nguồn người HMTN ổn định. Chúng ta từng bước hoàn thiện qui trình tổ chức hiến máu, tiếp nhận máu từ các tỉnh về TTTMKV, hoàn thiện qui trình chăm sóc và tư vấn sức khoẻ người hiến máu.
Chúng ta đã xây dựng được cơ chế tài chính cho công tác tuyên truyền vận động HMTN một cách hợp lý và hiệu quả; xây dựng quy chế tôn vinh người HMTN [23]; mở rộng phạm vi cung cấp máu của các TTTMKV; từng bước hoàn thiện qui trình cung cấp máu từ các trung tâm đến các tỉnh, các bệnh viện [5]. Sau một thời gian thực hiện chúng ta cần khảo sát đánh giá nhu cầu và thực trạng sử dụng máu và các chế phẩm máu tại các địa phương, nghiên cứu một số biện pháp để vận chuyển, bảo quản, phân phối máu và chế phẩm một cách kịp thời, khoa học và thuận lợi [5],[9],[21]. Tình hình truyền máu tại Hải Phòng 1. Nhu cầu về máu Tình hình tai nạn giao thông, tai nạn lao động ngày càng gia tăng cả về số vụ và mức độ trầm trọng.
Số bệnh nhân có nhu cầu sử dụng máu như các bệnh nhân tai biến sản khoa, xuất huyết tiêu hoá, ung thư. ngày càng nhiều. Theo cách tính của WHO mỗi năm để đáp ứng đủ máu cho điều trị phải có 2% dân số tham gia hiến máu, với cách tính trên thì Hải Phòng mỗi năm cần khoảng 36.000 lượt người hiến máu để có đủ máu điều trị cho người bệnh. Thực tế năm 2010, Hải Phòng mới chỉ tiếp nhận được 10.2 Nguồn người cho máu Trong những năm trước 1996, nguồn máu chủ yếu là từ người HMCN (chiếm 100%).
Từ năm 1996 đến nay, phong trào HMTN ở Hải Phòng được phát động, tình trạng thiếu nguồn người hiến máu dần được cải thiện. Từ thời điểm 1996, bắt đầu có phong trào vận động HMTN đến năm 2006 (chưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thành lập trung tâm truyền máu) số lượng máu tiếp nhận hàng năm từ người HMTN chỉ đạt dưới 20%. Năm 2007, thành phố Hải Phòng đã thành lập Ban vận động HMTN và Trung tâm Huyết học - Truyền máu trực thuộc bệnh viện Hữu nghị Việt-Tiệp, cán bộ của trung tâm là những người làm nòng cốt thực hiện công tác vận động HMTN nên số người HMTN tăng không ngừng, đạt 51% năm 2007 và 77,4% năm 2008 tuy nhiên các đối tượng HMTN chủ yếu là HS-SV và ở lứa tuổi thanh niên [6],[24]. Tổ chức và quản lý hệ thống truyền máu Tuy đã thành lập được Trung tâm Huyết học - Truyền máu nhưng Hải Phòng vẫn còn 02 bệnh viện vẫn tự cung, tự cấp là bệnh viện Trẻ em Hải Phòng và bệnh viện Đa khoa Kiến An.