Nghiên cứu kết quả gạn tách tế bào máu bằng máy tự động trong điều trị bệnh máu - Viện Huyết học Truyền máu TW

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp gạn tách tế bào máu tự động so với phương pháp truyền thống trong hỗ trợ điều trị các bệnh lý máu

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

183
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về gạn tách tế bào máu bằng máy tách tế bào tự động

Gạn tách tế bào máu bằng máy tách tế bào tự động là kỹ thuật y học hiện đại sử dụng nguyên lý ly tâm để tách riêng các thành phần máu. Phương pháp này cho phép loại bỏ tế bào bất thường, thu thập tế bào khỏe mạnh phục vụ truyền máu hoặc điều trị. Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương là cơ sở đi đầu trong ứng dụng kỹ thuật này tại Việt Nam. Máy tách tế bào tự động hoạt động dựa trên sự chênh lệch mật độ giữa các thành phần máu. Máu được đưa vào hệ thống kín, ly tâm tách thành từng lớp riêng biệt. Quá trình diễn ra liên tục, đảm bảo an toàn cho người bệnh. Kỹ thuật gạn tách tế bào máu tự động mang lại hiệu quả vượt trội so với phương pháp thủ công truyền thống. Thời gian xử lý ngắn hơn, tỷ lệ thu hồi tế bào mục tiêu cao hơn. Chi phí điều trị giảm đáng kể nhờ rút ngắn thời gian nằm viện. Nghiên cứu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã chứng minh tính an toàn và hiệu quả của kỹ thuật này trong điều trị nhiều bệnh lý máu khác nhau.

1.1. Khái niệm và nguyên lý hoạt động của máy tách tế bào tự động

Máy tách tế bào tự động là thiết bị y tế sử dụng công nghệ ly tâm liên tục để phân tách các thành phần máu theo nguyên lý chênh lệch mật độ. Hệ thống bao gồm mạch máu kín, bơm tuần hoàn, buồng ly tâm và các túi thu thập. Máu người bệnh được dẫn qua hệ thống, các tế bào nặng hơn như hồng cầu lắng xuống dưới, tế bào nhẹ hơn nổi lên trên. Tiểu cầu và bạch cầu được tách riêng nhờ điều chỉnh tốc độ ly tâm phù hợp. Toàn bộ quy trình được kiểm soát bằng phần mềm vi tính, đảm bảo chính xác và an toàn tuyệt đối cho người bệnh.

1.2. Vai trò của gạn tách tế bào máu trong điều trị bệnh lý huyết học

Gạn tách tế bào máu đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiều bệnh lý huyết học nguy hiểm. Đối với bệnh tăng bạch cầu cấp tính, kỹ thuật này giúp giảm nhanh số lượng bạch cầu, ngăn ngừa biến chứng tắc mạch. Ở bệnh nhân tăng tiểu cầu, gạn tách tiểu cầu dự phòng và điều trị giúp giảm nguy cơ huyết khối. Phương pháp còn được ứng dụng trong thu thập tế bào gốc tạo máu phục vụ cấy ghép. Tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, gạn tách tế bào máu đã trở thành kỹ thuật thường quy, hỗ trợ tích cực cho quá trình hóa trị liệu và cải thiện tiên lượng sống cho người bệnh.

II. Phân tích kết quả gạn tách tế bào máu trong điều trị bệnh máu

Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương trên nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau. Kết quả cho thấy hiệu quả giảm bạch cầu rõ rệt sau gạn tách, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi bị tăng bạch cầu cấp tính. Số lượng bạch cầu giảm trung bình đáng kể sau mỗi lần gạn tách. Tỷ lệ biến chứng thấp, chủ yếu là hạ canxi máu nhẹ và phản ứng tại chỗ. Về gạn tách tiểu cầu, nghiên cứu ghi nhận hiệu quả ở cả ba nhóm chỉ định: dự phòng, điều trị và cấp cứu. Nhóm cấp cứu với số lượng tiểu cầu trên 1000 G/l đáp ứng tốt nhất. Thời gian gạn tách trung bình dao động từ 60 đến 120 phút tùy loại tế bào mục tiêu. Bệnh nhân được hóa trị liệu phối hợp sau gạn tách có kết quả điều trị vượt trội. Tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn cao hơn so với nhóm chỉ dùng hóa chất đơn thuần. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả bao gồm thời điểm gạn tách, tình trạng lâm sàng ban đầu và bệnh lý nội khoa kèm theo.

2.1. Kết quả gạn tách bạch cầu ở bệnh nhân tăng bạch cầu cấp tính

Gạn tách bạch cầu cho thấy hiệu quả vượt trội ở nhóm bệnh nhân tăng bạch cầu cấp tính có số lượng bạch cầu cao trên 50 G/l. Sau gạn tách, số lượng bạch cầu giảm trung bình từ 30 đến 50%, triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt. Nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi đáp ứng tốt hơn so với nhóm trẻ tuổi. Biến chứng thường gặp là hạ canxi máu do anticoagulant citrate, xảy ra ở khoảng 15% trường hợp nhưng đều tự hồi phục sau bổ sung canxi. Thời gian gạn tách trung bình khoảng 90 phút, bệnh nhân dung nạp tốt và không ghi nhận biến chứng nặng.

2.2. Kết quả gạn tách tiểu cầu trong điều trị tăng tiểu cầu tiên phát

Gạn tách tiểu cầu trong bệnh tăng tiểu cầu tiên phát đạt hiệu quả cao, đặc biệt ở nhóm cấp cứu với số lượng tiểu cầu trên 1000 G/l. Tiểu cầu giảm trung bình 40-60% sau mỗi lần gạn tách. Triệu chứng tắc mạch cải thiện rõ ở 85% bệnh nhân có biến chứng huyết khối. Phụ nữ mang thai mắc tăng tiểu cầu tiên phát được gạn tách dự phòng cho kết quả tích cực, giảm tỷ lệ sảy thai trong ba tháng đầu. Phối hợp gạn tách với hóa trị liệu như hydroxyurea và aspirin giúp duy trì ổn định số lượng tiểu cầu lâu dài. Không ghi nhận biến chứng xuất huyết nặng sau thủ thuật.

III. Phương pháp gạn tách tế bào máu và quy trình thực hiện tại viện

Quy trình gạn tách tế bào máu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế. Bệnh nhân được đánh giá toàn diện trước thủ thuật bao gồm xét nghiệm máu, chức năng đông máu và tình trạng tim mạch. Thời điểm gạn tách được xác định ngay sau khi có kết quả xét nghiệm, có thể thực hiện ở giai đoạn đầu bệnh, khi bệnh không đáp ứng điều trị hoặc khi tái phát. Hệ thống máy tách tế bào tự động sử dụng bộ kit dùng một lần, đảm bảo vô trùng tuyệt đối. Lưu lượng máu được điều chỉnh phù hợp với cân nặng và thể trạng từng bệnh nhân. Trong quá trình gạn tách, bác sĩ theo dõi liên tục các chỉ số sinh hiệu. Tốc độ bơm máu, liều lượng anticoagulant được điều chỉnh实时. Sau thủ thuật, bệnh nhân được theo dõi tại chỗ ít nhất 30 phút và tái khám theo lịch hẹn. Hóa trị liệu phối hợp được chỉ định ngay sau gạn tách để củng cố kết quả, thường dùng cytarabin, hydroxyurea hoặc aspirin tùy loại bệnh.

3.1. Chỉ định và chống chỉ định gạn tách tế bào máu trong lâm sàng

Chỉ định gạn tách tế bào máu bao gồm ba nhóm chính theo phân loại ASFA. Nhóm dự phòng áp dụng cho bệnh nhân có số lượng tế bào tăng cao nhưng chưa có triệu chứng, nhằm ngăn ngừa biến chứng. Nhóm điều trị dành cho bệnh nhân đã xuất hiện tắc mạch hoặc xuất huyết. Nhóm cấp cứu cho trường hợp số lượng tế bào tăng cực cao đe dọa tính mạng. Chống chỉ định tuyệt đối bao gồm nhiễm trùng nặng, suy hô hấp, rối loạn huyết động và thể trạng suy yếu. Chống chỉ định tương đối gồm bệnh lý tim mạch nặng, suy gan thận và viêm phổi tiến triển.

3.2. Quy trình kỹ thuật gạn tách tế bào máu bằng máy tự động

Quy trình gạn tách bắt đầu bằng việc đặt catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc sử dụng tĩnh mạch ngoại vi đường kính lớn. Bệnh nhân nằm tư thế thoải mái, được kết nối với máy tách tế bào qua hệ thống ống dẫn kín. Máu được bơm vào buồng ly tâm với tốc độ phù hợp, thường từ 30-60 ml/phút. Anticoagulant citrate được bổ sung liên tục để ngăn đông máu trong hệ thống. Tế bào mục tiêu được thu thập vào túi chuyên biệt, phần máu còn lại được hoàn trả cho bệnh nhân. Toàn bộ quy trình kéo dài 60-120 phút tùy loại tế bào cần gạn tách.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của kỹ thuật gạn tách tế bào máu

Nghiên cứu khẳng định hiệu quả và an toàn của kỹ thuật gạn tách tế bào máu bằng máy tách tế bào tự động trong điều trị nhiều bệnh lý máu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Kỹ thuật giúp giảm nhanh số lượng tế bào bất thường, cải thiện triệu chứng lâm sàng và giảm tỷ lệ biến chứng. Phương pháp đặc biệt có ý nghĩa với bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân có bệnh lý nội khoa kèm theo và phụ nữ mang thai mắc bệnh máu. Kết hợp gạn tách với hóa trị liệu cho kết quả điều trị vượt trội so với phương pháp đơn lẻ. Chi phí hợp lý, thời gian nằm viện ngắn hơn đáng kể. Kỹ thuật gạn tách tế bào máu tự động đã trở thành phác đồ chuẩn tại viện, được áp dụng rộng rãi cho nhiều loại bệnh máu khác nhau. Đội ngũ y bác sĩ được đào tạo bài bản, đảm bảo chất lượng dịch vụ ổn định. Nghiên cứu mở đường cho việc ứng dụng rộng rãi kỹ thuật này tại các bệnh viện tuyến tỉnh trên toàn quốc.

4.1. Ứng dụng lâm sàng và hiệu quả điều trị thực tế

Ứng dụng lâm sàng của gạn tách tế bào máu tự động đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong nhiều tình huống. Đối với bệnh bạch cầu cấp tính, kỹ thuật giúp hạ bạch cầu nhanh, tạo thời gian chờ hóa chất phát h tác dụng. Bệnh nhân tăng tiểu cầu tiên phát được gạn tách dự phòng giảm rõ rệt nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Phụ nữ mang thai mắc bệnh máu được can thiệp kịp thời, bảo vệ cả mẹ và thai nhi. Thời gian nằm viện trung bình rút ngắn 3-5 ngày so với điều trị truyền thống. Tỷ lệ biến chứng nặng dưới 2%, đảm bảo an toàn cho người bệnh.

4.2. Hướng phát triển và nhân rộng kỹ thuật gạn tách tế bào máu

Kỹ thuật gạn tách tế bào máu tự động cần được nhân rộng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương trên toàn quốc. Đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên và bác sĩ chuyên khoa là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, cập nhật phần mềm điều khiển thế hệ mới giúp tối ưu hóa quy trình. Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung đánh giá hiệu quả dài hạn trên quy mô lớn hơn. Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hóa cho từng loại bệnh cụ thể sẽ nâng cao tỷ lệ thành công. Hợp tác quốc tế trong đào tạo và chuyển giao công nghệ cần được đẩy mạnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án nghiên cứu kết quả gạn tách tế bào máu bằng máy tách tế bào tự động trong điều trị hỗ trợ một số bệnh máu tại viện huyết học truyền máu trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ GẠN TÁCH TẾ BÀO MÁU 1. Trên thế giới - Năm 1950: túi đựng máu bằng nhựa thay thế cho chai thủy tinh. - Năm 1960: Schwab và Fahey đã thực hiện gạn tách huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh Waldenstrom.

- Năm 1966: Freireich lần đầu tiên gạn tách bạch cầu ở bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt (LXMKDH) bằng máy ly tâm máu. Các nghiên cứu từ những năm 1970 cho thấy dùng máy tách tế bào tự động thì thể tích máu xử lý lớn mà không phải bù thể tích tuần hoàn. Theo các nghiên cứu này, thể tích máu xử lý khoảng 8-10 lít (tương đương 2 lần thể tích máu người lớn) được coi là hiệu quả cho mỗi lần gạn tách [1]. - Năm 1971: Andersen là người đầu tiên thực hiện gạn tách tế bào gốc từ máu ngoại vi.

- Nghiên cứu của Huestis (1976) khi xử lý một thể tích máu bệnh nhân bằng máy Haemonetic giảm được 15- 46% số lượng bạch cầu (SLBC) [12]. - Năm 1978: gạn tách huyết tương bằng màng lọc được giới thiệu. - Năm 1987: IBM giới thiệu máy COBE Spectra. Hester điều trị gạn bạch cầu đơn thuần cho 15 bệnh nhân LXMKDH trong 16 tháng (mục đích đạt SLBC từ 50-100 G/L) với 900 lượt gạn và mỗi lượt xử lý 10 lít máu.

Nghiên cứu cho thấy SLBC đã giảm khoảng 33% sau mỗi lần gạn, các triệu chứng gan lách to được cải thiện hơn. - Năm 1985, Sleeper tiến hành gạn 2 lần thể tích máu bệnh nhân bằng máy CS3000 giảm được 50-86% SLBC [13]. 4 - Nghiên cứu của Bug G. (2007) trên 53 bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tuỷ thấy tỷ lệ tử vong trong 3 tuần đầu tiên ở nhóm gạn bạch cầu là 16% còn ở nhóm không gạn là 32%.

Tác giả cũng thấy rằng với lượng máu xử lý là 8,8 lít thì giảm được 47% SLBC so với trước gạn [14]. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Porcu P. - Năm 2005, Tan và cs. tiến hành gạn bạch cầu cho 14 bệnh nhân LXMKDH và LXM cấp thì giảm được 31,9% so với số lượng ban đầu [17].

Các nghiên cứu cũng cho thấy gạn tách bạch cầu cũng rất hữu ích để kiểm soát tăng bạch cầu ở bệnh nhân LXMKDH khi điều trị hoá chất bị chống chỉ định như là trong trường hợp phụ nữ có thai [18], [19], [20]. (2004) mô tả một bệnh nhân nữ 26 tuổi LXM kinh dòng lympho có thai 3 tháng được điều trị bằng gạn tách bạch cầu cho đến khi sinh ở tuổi thai 36 tuần với 15 chu kỳ gạn tách bạch cầu. Các tác giả thấy phương pháp này không có tác dụng bất lợi đối với bệnh nhân hoặc thai nhi. Bệnh nhân sinh thường, một bé trai khoẻ mạnh nặng 2800 g.

Gạn tách bạch cầu có thể là một phương pháp điều trị thay thế cho hóa trị liệu, α- interferon hoặc imatinib ở bệnh nhân mang thai mắc LXM kinh dòng lympho, giảm nguy cơ gây bất thường thai sản [18]. Theo hướng dẫn của tạp chí Journal of Clinical Apheresis hiệu quả giảm SLBC tối ưu là khi SLBC giảm trên 30% so với ban đầu và thể tích máu xử lý gấp 1,5- 2 lần thể tích máu bệnh nhân [21]. Nghiên cứu của Bensinger thấy SLTC trung bình trước gạn là 1.185 G/l sau khi gạn 24 giờ giảm xuống còn 575 G/l (giảm 48,5%) [22]. Ở Việt Nam - Gạn tách trong điều trị: Tại Việt Nam, từ năm 2003, Nguyễn Hà Thanh đã nghiên cứu điều trị LXMKDH giai đoạn mạn tính bằng hydroxyurea đơn thuần và phối hợp với gạn tách bạch cầu bằng phương pháp thủ công vì thời điểm đó Việt Nam chưa sử dụng máy gạn tách, chưa có quy trình chuẩn của Bộ Y tế.

thấy gạn tách bạch cầu là một phương pháp điều trị bổ trợ hiệu quả, giúp cải thiện nhanh tình trạng lâm sàng và huyết học của bệnh nhân LXMKDH [7]. Năm 2008, Lê Phương Anh đã nghiên cứu 40 bệnh nhân LXMKDH và 14 bệnh nhân LXM cấp có số lượng bạch cầu cao được điều trị gạn bạch cầu bằng máy Cobe - Spectra tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương [25]. Tác giả nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ và chỉ tập trung hai mặt bệnh, cùng với đó là thiết bị máy mới đưa vào hoạt động, chưa được quy chuẩn của Bộ Y tế. Cũng từ năm 2008, Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP.

Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp gạn tách tế bào với máy tự động và đến năm 2011 được đưa vào chỉ định điều trị ở bệnh nhân biểu hiện bạch cầu cao [26], [27]. Gần đây, Nguyễn Thị Lệ Ninh (2015) đã điều trị 55 bệnh nhân tăng tiểu cầu tiên phát (TTCTP) bằng phương pháp gạn tiểu cầu kết hợp điều trị hydroxyurea [28]. - Gạn tách thành phần máu (tiểu cầu): Vũ Đức Bình (2007), Hà Hữu Nguyện (2012) đã so sánh chất lượng khối tiểu cầu được gạn tách bằng các loại máy khác nhau [9], [10]. PHƯƠNG PHÁP GẠN TÁCH TẾ BÀO MÁU 1.

Nguyên lý gạn tách tế bào máu Gạn tách tế bào máu dựa trên 3 nguyên tắc chính [21], [29], [30], [31]: (1) Gạn tách tế bào máu bằng ly tâm, dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của các tế bào máu và thành phần huyết tương; (2) Gạn tách tế bào máu bằng màng lọc; (3) Kết hợp cả 2 nguyên tắc trên. Gạn tách bằng kỹ thuật ly tâm Dựa trên sự chênh lệch tỷ trọng giữa các thành phần hữu hình của máu và huyết tương, khi ly tâm mạnh với tốc độ ổn định các tế bào máu sẽ lắng thành các lớp khác nhau: hồng cầu trưởng thành lắng xuống đáy, trên cùng là huyết tương, ở giữa lần lượt là hồng cầu non, bạch cầu đoạn, bạch cầu lympho và monocyt, tiểu cầu (hình 1. Tỷ trọng riêng của các thành phần máu cơ bản (Plasma: huyết tương; Packed red cells: Khối hồng cầu; Platelet: Tiểu cầu; Lymphocyte: tế bào lympho; Granulocyte: BC đa nhân) 7 Quy trình gạn tách bao gồm việc lấy máu toàn phần từ bệnh nhân vào trong một thiết bị được thiết kế về cơ bản như một máy ly tâm, các tế bào máu được ly tâm để phân tách và lấy ra và các tế bào còn lại được truyền trả cho bệnh nhân một cách tự động. Các tế bào máu được phân tách và thu hồi gồm: hồng cầu, huyết tương, tiểu cầu, bạch cầu (hình 1.

Ly tâm phân tách máu toàn phần thành các lớp khác nhau (Plasma: huyết tương; Packed red cells: Khối hồng cầu; Platelet: Tiểu cầu; Lymphocyte: tế bào lympho; Granulocyte: BC đa nhân). Thu nhận các thành phần máu sau khi ly tâm. (Plasma: huyết tương; RBC: Hồng cầu; WBC: Bạch cầu) 8 Do các thành phần của máu có tỷ trọng, kích thước và độ nhớt khác nhau nên khi ly tâm sẽ phân tách thành các lớp phần khác nhau. Máy gạn tách thành phần máu sẽ lấy máu ra khỏi cơ thể, trộn với chất chống đông và đưa vào hệ thống ly tâm, phân tách ra các lớp và gạn tách thành phần theo yêu cầu và trả lại cơ thể các thành phần còn lại một cách tự động dựa trên phần mềm của máy tách tự động đã được lập trình [10], [32].

Trong gạn tách tế bào để điều trị, hiện nay phổ biến dùng phương pháp gạn tách tế bào máu bằng cách ly tâm [21]. Có hai hình thức gạn tách tế bào máu bằng ly tâm được sử dụng trong điều trị và truyền máu: liên tục và không liên tục. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, cần được bác sỹ lâm sàng cân nhắc khi chỉ định điều trị cho bệnh nhân [10]. Phương pháp gạn tách tế bào máu không liên tục Máy sử dụng kỹ thuật này xử lý máu theo nhiều chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm: lấy ra một thể tích máu nhất định, ly tâm phân tách máu ra các thành phần khác nhau (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết tương.), lấy ra một thành phần rồi sau đó trả các thành phần còn lại về cho người hiến máu hoặc bệnh nhân.

Dòng máu không có sự luân chuyển liên tục giữa máy ly tâm và cơ thể bệnh nhân. Các chu kỳ lặp lại cho đến khi đạt được lượng thành phần gạn tách theo yêu cầu. Các loại máy sử dụng kỹ thuật này gồm: Amicus, Heamonetics MCS+. - Ưu điểm: Dễ thực hiện với các thiết bị sẵn có, giá thành thấp, chỉ cần can thiệp vào một tĩnh mạch ngoại vi.

- Nhược điểm: Có một lượng máu khá lớn nằm ngoài cơ thể, do đó cần chú ý đảm bảo thể tích tuần hoàn bằng cách bù dịch và giới hạn lượng máu lấy ra khỏi cơ thể mỗi lần ly tâm. Thời gian thực hiện kỹ thuật lâu hơn so với phương pháp gạn tách liên tục. 9 (1) Đường máu vào (2) Lớp huyết tương (3) Lớp Bufficoat (4) Lớp hồng cầu (5) Đường ra của các thành phần máu Hình 1. Kỹ thuật ly tâm dòng chảy không liên tục 1.

Phương pháp gạn tách tế bào máu liên tục Gạn tách tế bào máu bằng phương pháp liên tục được thực hiện bằng máy tách tế bào tự động hoặc bán tự động [9]. Máy sử dụng kỹ thuật này thực hiện đồng thời, liên tục các hoạt động gồm: Lấy máu ra từ một vị trí của tĩnh mạch, ly tâm phân tách các thành phần khác nhau, gạn tách một thành phần theo yêu cầu và trả các thành phần còn lại về một vị trí của tĩnh mạch khác nhờ hệ thống bơm cho từng đường đi của các thành phần máu. Tốc độ dòng chảy ở máy gạn tách liên tục đối với người lớn thường là 60 - 120 ml/phút do vậy mà lượng máu nằm ngoài cơ thể là rất ít. Các loại máy sử dụng kỹ thuật dòng chảy liên tục gồm: Optia Spectra, Cobe Spectra, Trima, Comtec, Fenwal CS 3000 Plus… [9], [10], [32] (hình 1.

- Ưu điểm: thời gian gạn tách nhanh hơn so với phương pháp gạn tách không liên tục, lượng máu nằm ngoài cơ thể tương đối ít do vậy mà có thể gạn được thể tích máu lớn mà ít gây tai biến do giảm thể tích [9], [32]. - Nhược điểm: phải can thiệp vào 2 tĩnh mạch của bệnh nhân cùng lúc có thể là tĩnh mạch ngoại vi hoặc tĩnh mạch trung tâm hoặc kết hợp cả tĩnh mạch ngoại vi và tĩnh mạch trung tâm. Giá thành điều trị cao. Ngoài ra, máy tách tế bào là thiết bị đắt tiền và chưa được sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện.

Kỹ thuật ly tâm dòng chảy liên tục. GẠN TÁCH TẾ BÀO MÁU TRONG ĐIỀU TRỊ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ