CHƯƠNG 1. CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. Chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị - một số vấn đề lý luận 1. Khái niệm đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 1.
Khái niệm “giảng viên”, “giảng viên lý luận chính trị” * Khái niệm “giảng viên” Trong xu thế phát triển chung của thời đại, mỗi quốc gia đều nhận thấy giáo dục luôn là chìa khóa then chốt đối với sự thành công của chiến lược phát triển con người. Với truyền thống lịch sử của dân tộc, với chân lý bất hủ từ bao đời đã được hun đúc và truyền lửa qua nhiều thế hệ “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và dành sự ưu đãi đặc biệt cho nền giáo dục nước nhà. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 đến 2020 đã đề ra mục tiêu: Đến 2020 Giáo dục đại học Việt Nam phải đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN. Là nhân tố quan trọng thúc đẩy việc duy trì và hợp tác trong nền giáo dục, đặc biệt trong hoạt động giảng dạy, đội ngũ giảng viên luôn là một thành tố giữ vị trí và vai trò hết sức quan trọng.
Do đó, hiểu khái niệm “giảng viên” là việc làm cần thiết không chỉ đối với những người nghiên cứu, những người làm công tác trong lĩnh vực giáo dục, mà còn rất có ý nghĩa đối với mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thì: “giảng viên là người giảng dạy ở đại học hay lớp huấn luyện cán 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo Luật Giáo dục 2009, giảng viên bao gồm các nhà sư phạm được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các ngạch giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giảng viên cao cấp và giáo sư trong biên chế sự nghiệp của cơ sở đào tạo đại học - cao đẳng công lập hoặc trong danh sách làm việc toàn thời gian của cơ sở giáo dục đại học - cao đẳng ngoài công lập. Điều 70 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: giảng viên là “… Những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là nhà giáo; ở các cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [37].
Hiện nay, trong quá trình đào tạo, giảng viên thực hiện ba vai trò: Vai trò của một chuyên gia, của người thúc đẩy và của người tổ chức. Ba vai trò đó có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ và cùng nhau thúc đẩy, nâng cao khả năng giảng dạy và NCKH của giảng viên. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà giảng viên cần phải làm là thực hiện kế hoạch giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên; giúp họ biết phát huy được vai trò chủ động trong học tập và rèn luyện; tổ chức các phong trào và hướng dẫn sinh viên tự giác thực hiện mục tiêu đào tạo và các nhiệm vụ chính của nhà trường. * Khái niệm “đội ngũ giảng viên” Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó.
Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội. Theo nghĩa hẹp, đội ngũ giảng viên là những thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, bồi dưỡng cán bộ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban TCCB Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) đội ngũ giảng viên được xếp ở 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp. * Khái niệm “giảng viên lý luận chính trị” cũng cần được làm rõ ở đây.
Như đã biết, lý luận là khái niệm quen thuộc được dùng trong nghiên cứu cũng như trong đời sống xã hội, nó tồn tại cùng với sự phát triển của tri thức loài người. Theo tiếng Hy Lạp, lý luận là “Theorie” có nghĩa là quan sát, nghiên cứu. Khi nói về lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [34, tr. Đây được coi là một định nghĩa khái niệm mang tính chỉnh thể và đầy đủ, toàn diện và sâu sắc mà Hồ Chí Minh đã đưa ra để làm sáng tỏ quan niệm triết học về lý luận, nguồn gốc cũng như cách thức hình thành lý luận.
Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, con người bằng khối óc và khả năng lao động sáng tạo của mình luôn muốn tìm hiểu, khám phá và làm chủ thế giới xung quanh mình. Điều căn bản để hiểu biết về thế giới đó là phải có những tri thức cơ bản nhất. Những tri thức đó được hình thành thông qua quá trình hoạt động của con người. Qua thực tiễn đa dạng và phong phú, con người sẽ đúc rút tri thức từ những kinh nghiệm và khái quát thành những quan điểm khác nhau.
Do đó, lý luận không chỉ là sự mô tả hiện thực khách quan, thế giới xung quanh con người, mà còn là quá trình sao chép, phản ánh thế giới bởi tư duy thành những phạm trù và khái niệm giúp con người nhận thức. Triết học duy vật biện chứng cũng phân thành hai cấp độ nhận thức: Nhận thức kinh nghiệm (trực tiếp) và nhận thức lý luận (gián tiếp). Nói về nhận thức kinh nghiệm, Ăngghen đã viết: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [34, tr. Ở một trình độ cao hơn, nhiệm vụ của nhận thức lý luận, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mác là: Đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bản chất bên trong thực sự. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì: Lý luận là một hệ thống tri thức được khái quát từ những hoạt động và kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và có vai trò chỉ đạo thực tiễn, định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người một cách khách quan và chính xác. Với cách hiểu và quan niệm như vậy, lý luận đã khẳng định được vai trò và sức mạnh to lớn của mình là không chỉ giúp con người nhận thức mà còn hành động theo đúng quy luật vận động của thế giới khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [36, tr.
Lý luận dù ở dạng tinh thần, nhưng khi áp dụng có hiệu quả vào hoạt động thực tiễn thì lý luận trở thành sức mạnh giúp con người chủ động trong hoạt động thực tiễn, vượt qua được những khó khăn để đạt được mục đích đã đề ra. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [30, tr. Chính trị theo tiếng Hy Lạp là “Politica” nghĩa là những công việc liên quan đến nhà nước và nghệ thuật cai trị đất nước. Khi đề cập đến chính trị, Mác và Ăngghen đã xem xét chính trị với tư cách là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và chỉ ra vai trò của nó trong đời sống xã hội.
Theo Lênin, khi xã hội phân chia thành giai cấp, có đấu tranh giai cấp và nhà nước xuất hiện thì chính trị ra đời. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, tham gia vào hoạt động của nhà nước, định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước, phản ánh cuộc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đấu tranh của các giai cấp xung quanh vấn đề giành, giữ, sử dụng chính quyền do địa vị kinh tế của những giai cấp đó quy định. Như vậy, qua những định nghĩa khái niệm về chính trị, có thể thấy rằng chính trị là một hiện tượng xã hội mang tính đặc biệt, xuất hiện cùng với sự hình thành, phân chia xã hội thành giai cấp và nhà nước. Từ việc hiểu, phân tích và làm rõ khái niệm “lý luận” và “chính trị”, thì khái niệm “lý luận chính trị” được hiểu theo nghĩa chung nhất là: hệ thống lý luận, quan điểm, tư tưởng về chính trị, mang tính toàn diện, có tác dụng định hướng, chỉ đạo toàn bộ hoạt động chính trị của một Nhà nước, quốc gia, giai cấp.
Đối với nước ta, vấn đề nền tảng, cơ sở LLCT đã được xác định ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3/2/1930. Điều này được thể hiện và khẳng định nhất quán thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011): Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, ngay từ đầu nó đã chứng tỏ là một khoa học cách mạng và triệt để, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của lịch sử nhân loại. Kể từ khi mới ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn luôn thể hiện là một học thuyết đúng đắn và cách mạng, như ánh sáng soi đường của loài người nói chung, của giai cấp vô sản cách mạng tiến bộ nói riêng.
Khi đánh giá về giá trị của học thuyết Mác, Lênin đã khẳng định: “. Đó là lý luận lần đầu tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học; lý luận đó đã dựng lên những cơ sở vững chắc cho khoa học ấy và vạch rõ con đường mà chúng ta cần phải theo” [29, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.