Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng quản lý chương trình đào tạo tại trường Cao đẳng Thống kê Chương 3: Một số biện pháp quản lý chương trình đào tạo tại trường Cao đẳng Thống kê 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động bắt buộc sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều tra, kiểm tra… và phải có người đứng đầu.
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra nhiều khái niệm về quản lý - F. Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” - Henry Fayon (1841-1925) cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông khẳng định: “Khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”.
Ở nước ta cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu khái niệm quản lý. - Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể những người quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [22;tr 12] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10] Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm: Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất. Trong hoạt động quản lý có hai hệ thống khăng khít với nhau, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. - Các chức năng cơ bản của quản lý: Lập kế hoạch Tổ chức Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển Kiểm tra - Các phương pháp quản lý: Các phương pháp hành chính - tổ chức Các phương pháp giáo dục Các phương pháp tâm lý - xã hội Các phương pháp kinh tế - Vai trò của quản lý: Vai trò của quản lý giáo dục được thể hiện thông qua các chức năng cơ bản của quản lý, Cụ thể được thể hiện thông qua quá trình từ việc thiết kế, lập kế hoạch, triển khai và đánh giá chương trình đào tạo [9]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chương trình đào taọ Theo K.Frey, chương trình giáo dục được định nghĩa như sau: “Chương trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy - học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu việc dạy - học”. Đây là định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu và thực hành quan tâm [10; tr. 14] Ngày nay, chương trình giáo dục hiện nay được xem như là tập hợp các mục tiêu và giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động được kế hoạch hoá và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với đời sống xã hội. Mức độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một chương trình giáo dục.
Mục đích của việc thiết kế một chương trình giáo dục phụ thuộc vào đối tượng người học của chương trình giáo dục đó. Và quan niệm về chương trình giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy. Chương trình vừa cần cụ thể hơn, bao quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm các bộ phận cấu thành: - Mục tiêu học tập - Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập - Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập - Đánh giá kết quả học tập. Như vậy, cấu trúc của chương trình bao gồm hai thành phần chính: sự hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập và cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở thành hiện thực.
Có thể xem định nghĩa sau đây đã bao hàm được những ý đó: Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập v.v nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra. Như vậy, những thành phần cơ bản của một chương trình giáo dục có thể: - Nhu cầu đào tạo - Mục đích, mục tiêu đào tạo - Nội dung đào tạo - Phương thức đào tạo - Các hình thức tổ chức hoạt động đào tạo - Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo [10;tr.15] Theo từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển bách khoa 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”. 54] Theo Tyler (1949) cho rằng: “Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản” 1. Mục tiêu đào tạo 2.
Nội dung đào tạo 3. Phương pháp hay quy trình đào tạo 4. Cách đánh giá kết quả đào tạo Theo Wentling (1993) cho rằng: “Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học tập, và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [21; tr.
200] Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy chương trình đào tạo là tài liệu quan trọng nhất trong mọi quy trình đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, vì vậy muốn hoàn thành tốt một chương trình đào tạo cần phải có sự quản lý sao cho trong quá trình triển khai nó luôn đi đúng theo mong muốn của người thiết kế. Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (chương trình khung) được quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục, các tổ chức xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khóa đào tạo, nó phản ánh cụ thể mục tiêu nội dung, cấu trúc, trình tự, cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khóa đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng. Chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 1.1 Quản lý giáo dục Trong cuốn“Những khái niệm về quản lý giáo dục” của Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học. Giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [22; tr. 12] Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hành động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2; tr. 31] 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể QL đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động/công tác giáo dục.
Nói một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.