Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và Biện pháp quản lý 1. Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt [17, tr.789]: “Quản lý nghĩa là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.” Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (1977): “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người, thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt đến mục đích dự kiến” [12, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: ''Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình ''quản'' gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình ''lý'' gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế phát triển” [7, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: ''Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức'' [15, tr.
Như vậy, khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa gắn với loại hình quản lý hoặc ở lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể song đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý. Đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. BiÖn ph¸p qu¶n lý Biện pháp quản lí là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lí. Vì đối tượng quản lí phức tạp, nên đòi hỏi phải những cách thức cụ thể, linh hoạt, phù hợp với đối tượng quản lí.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ đó, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định: Biện pháp quản lí là cách làm, cách giải quyết hợp lý. trong từng hoàn cảnh, điều kiện, tình huống cụ thể, do chủ thể quản lý lựa chọn và ra quyết định nhằm thực thi các công việc cần thiết, hoặc xử lí các vấn đề đặt ra, từ đó giúp đạt được mục tiêu quản lí. Các biện pháp quản lí được vận dụng thực thi trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo cũng được gọi là các biện pháp quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục và Quản lý nhµ trường 1.
Quản lý giáo dục Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”. Trong thời đại “giáo dục cho tất cả mọi người” như hiện nay, mục tiêu của giáo dục được cụ thể hoá là nâng cao dân tri , đa ́ ̀ o ta ̣o nhân lực, bồ i dưỡng nhân tà.i Đối tượng của quản lý giáo dục là toàn thể đội ngũ cán bộ, GV, HS - SV và các cơ sở vật chất kỹ thuật như trường, lớp, các trang thiết bị dạy học, … và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục. Qúa trình quản lý giáo dục chính là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, thông qua đó, bằng những biện pháp phù hợp với lý luận khoa học và các cơ sở thực tiễn, chủ thể quản lý tác động lên khách thể nhằm đạt những mục tiêu xác định. Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo H×nh 1.1: Sù t¸c ®éng qua l¹i cña c¸c chøc n¨ng qu¶n lý 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vì khi nói đến QLGD phải nói đến quản lý nhà trường 1.
Quản lý nhà trường Nhà trường (cơ sở giáo dục) là các cơ cấu quan trọng tạo nên cơ cấu khung của hệ thống giáo dục. Nhà trường cũng là một thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội. Những hoạt động diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn người (human capital), vốn tổ chức (organizationl capital), và vốn xã hội (social capital). Quản lý nhà trường là hoạt động chuyên biệt của các chủ thể quản lí (các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên, người lãnh đạo nhà trường) nhằm tập hợp, tổ chức và phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường, đảm bảo triển khai các hoạt động giáo dục - dạy học của nhà trường đạt được các mục tiêu phát triển với chất lượng, hiệu quả cao nhất.
Trong thực tiễn giáo dục hiện nay ở Việt Nam, quản lý nhà trường là một hoạt động chuyên biệt của người lãnh đạo (phù hợp với chức năng, cơ cấu tổ chức) nhằm huy động tốt nhất các nguồn lực vốn có của cơ sở đào tạo và của các tổ chức, các quan hệ xã hội ngoài trường, tổ chức và quản lý tốt các hoạt động giáo dục – dạy học của nhà trường, đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của ngành học, cấp học và các mục tiêu phát triển cụ thể của nhà trường phù hợp với đường lối, chính sách phát triển giáo dục của Đảng và nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng giaó dục, góp phần đào tạo thế hệ trẻ và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung quản lý nhà trường được phân biệt theo bậc học: Quản lý trường Mầm non và trẻ trước tuổi học Quản lý trường Phổ thông; Quản lý trường ĐH, CĐ Quản lý trường Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. C¸c thµnh tè c¬ b¶n xem xÐt tõ gãc ®é mét qu¸ tr×nh ®µo t¹o : 1.
Mục tiêu đào tạo của trường đại học, của ngành học (ngành đào tạo) và hệ thống Mục tiêu giáo dục- dạy học cụ thể hoá Mục tiêu đào tạo của ngành đào tạo; 2. Nội dung, chương trình đào tạo của Mục tiêu đào tạo của trường của các ngành đào tạo 3. Công tác kiểm tra- đánh giá và đảm bảo chất lượng đào tạo 4. Đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân viên 5.
Hoạt động giảng dạy và phương pháp đào tạo 6. Người học và hoạt động học tập- rèn luyện 7. Hoạt động Nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội 8. Các dịch vụ đảm bảo hoạt động đào tạo và năng lực quản lý đào tạo của các bộ phận chức năng (tuyển sinh, quản lý điểm số, thư viện…) 9.
Cơ sở vật chất, tài chính và hạ tầng kĩ thuật 10. Môi trường đào tạo và văn hoá nhà trường Cã thÓ coi ®©y lµ nh÷ng c¬ së khoa häc nh×n tõ gãc ®é Lý luËn d¹y häc cña qu¶n lý ®µo t¹o. Quản lý chất lượng đào tạo 1. Chất lượng - Theo quan điểm triết học: chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng (quá trình tích luỹ, biến đổi) tạo nên những bước biến đổi nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng [15, tr.
- Trong lĩnh vực giáo dục đại học có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, trong đó có định nghĩa của Harvey và Green [1993, 20, tr.6] được cho là định nghĩa khá thuyết phục và toàn diện. Theo Harvey và Green, chất lượng giáo dục đại học có 5 phương diện chính như sau: + Chất lượng là sự tuyệt hảo, xuất chúng, là sự tuyệt vời, sự ưu tú, xuất sắc (Quality as exceptional or excellence). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chất lượng là sự hoàn hảo, chất lượng của sản phẩm có nghĩa là sản phẩm không có lỗi. + Chất lượng là sự thích hợp, phù hợp với mục đích.
+ Chất lượng có giá trị về đồng tiền, đáng để đầu tư. + Chất lượng là có sự biến đổi về chất. - Ngoài ra, khái niệm “chất lượng” được xem xét từ hai yếu tố: chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối. Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó thể vượt qua được.
Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao (high quality). Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật. Theo quan niệm này. chất lượng tương đối có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) đề ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lƣợng bên trong”.
Khía cạnh thứ hai, chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người dùng, ở khía cạnh này, chất lượng được xem là “chất lƣợng bên ngoài”. Từ quan điểm về “chất lượng tương đối” trong giáo dục- đào tạo (là một loại dịch vụ), mỗi đơn vị đào tạo cần xác định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”. Chất lượng giáo dục- đào tạo - Trong đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học Việt Nam”Nguyễn Đức Chính và các cộng sự đã tổng thuật nhiều quan niệm về chất lượng GD nói chung và chất lượng đại học nói riêng và nhấn mạnh: chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua mức độ trùng khớp với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu định sẵn và gắn với chất lượng của sản phẩm đào tạo như là đầu ra của quá trình đào tạo. - Theo Trần Khánh Đức [ 22, tr 8 ]: chất lượng đào tạo cũng còn được xem là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình theo các ngành nghề cụ thể.