Chương 1 CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA TỈNH ỦY CÀ MAU NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. UỶ BAN KIỂM TRA TỈNH UỶ CÀ MAU VÀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN KIỂM TRA TỈNH CÀ MAU 1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ 1. Vai trò Nhìn lại lịch sử thế giới, chế độ giám sát đã có từ đời Tần Thủy Hoàng (năm 221 tr.
Từ đó đến nay, nó vẫn tồn tại, phát triển cùng với các nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.Lênin, các Ông chưa sử dụng khái niệm giám sát mà thường dùng khái niệm kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát. Tuy nhiên khi nói đến kiểm kê, kiểm tra, kiểm sóat là đã bao hàm cả nội dung giám sát. Trong các tác phẩm của mình, do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, C.Mác chưa đề cập đến công tác giám sát của một đảng cầm quyền, nhưng trong đó đã thể hiện rõ quan điểm về kiểm tra, giám sát trong quản lý kinh tế - xã hội.Mác, để đạt được mục tiêu, kế họach đã đề ra thì phải tiến hành kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát là phương thức hành động quan trọng để thực hiện mục tiêu, kế hoạch.
Việc kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một trong những vấn đề được Lênin rất quan tâm. Trước khi Cách mạng Tháng Mười năm 1917 nổ ra và trong những năm đầu của Nhà nước Xô - viết, Người đã có rất nhiều bài viết, bài phát biểu trong các hội nghị và có những bức thư gửi cho các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền được đề cập đến vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm sóat; việc xây dựng, cải tổ bộ máy làm công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát; việc tổ chức và phương pháp thực hiện kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát. Lênin luôn coi công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu, đồng thời là một trong 9 những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước. Lênin khẳng định: Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát được coi là: “những nhiệm vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ nghĩa sau khi đã giành được chính quyền” [38, tr.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công, giai cấp công nhân Nga đã giành được chính quyền và thực hiện “việc tước đoạt kẻ đi tước đoạt”. Trọng tâm của cuộc đấu tranh lúc bấy giờ đã chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, mà nội dung chủ yếu là quản lý kinh tế, trong đó bao hàm hai nhiệm vụ rất quan trọng là: Tổ chức kiểm kê, kiểm sóat việc sản xuất, phân phối sản phẩm và nâng cao năng suất, chất lượng lao động. Lênin viết: “Trọng tâm của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đang chuyển sang công tác tổ chức việc kiểm kê, kiểm soát” [38, tr 221]. Và vì vậy, "kiểm kê và kiểm soát phải được đặt thành vấn đề nổi bật trong toàn bộ việc quản lý nhà nước” [38, tr.
Bằng kinh nghiệm thực tế lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga và chính quyền Xô viết trong những năm đầu tiên, Lênin đã rút ra tính tất yếu của Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát. Lênin nói: nếu buông lỏng kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát thì những người vô sản sẽ lại trở thành người nô lệ. Lênin viết: “… nếu Nhà nước không tiến hành kiểm kê và kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những người lao động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì được và nhất định họ sẽ phải sống trở lại dưới ách của chủ nghĩa tư bản [38, tr. Lênin khẳng định: Việc tổ chức kiểm kê, kiểm soát toàn dân để “ điều tiết đời sống kinh tế”, là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện, Lênin viết: “Thống kê và kiểm soát, đó là điều chủ yếu cần thiết cho cả việc “tổ chức”,lẫn hoạt động đều đặn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó” [36, 124].
Theo Lênin: khi trọng tâm của cuộc cách mạng đã chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì 10 những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát. Phải xem công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức. Việc thực hiện công tác tổ chức kiểm kê và kiểm soát toàn dân để quản lý và điều hành các hoạt động của xã hội là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời hoạt động của mình, người luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là lý luận của Lênin về xây dựng Đảng vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, nhất là trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền.
Trong đó công tác giám sát của Đảng và Nhà nước, phải bao gồm cả giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, giám sát của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói về công tác giám sát một cách linh hoạt, bằng những ngôn ngữ giản dị dễ hiểu, đó là bao hàm cả giám sát trong Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức. Qua nghiên cứu cho thấy, trong suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ít dùng khái niệm giám sát. Trong các bài nói, bài viết của mình, Người thường dùng các khái niệm “kiểm soát”, “kiểm tra”, “xem xét”, “điều tra”, “nắm tình hình”, "nghe báo cáo”,…là chủ yếu để thay thế cho khái niệm “giám sát”.
Thực tế trong tư tưởng của Người khái niệm “giám sát” đã bao hàm cả “kiểm soát”, “kiểm tra”, “điều tra”,…rồi. Người dùng như vậy là vừa chính xác, vừa phù hợp với thực tế điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thực tế còn do cách tổ chức công việc, do lựa chọn cán bộ và do kiểm tra, kiểm soát- tức là phải giám sát xem việc thực hiện có đến nơi đến chốn hay chưa. Người viết: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và nơi kiểm tra.
Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [46, tr. 11 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, mục đích, ý nghĩa, tác dụng của công tác giám sát là giúp cho Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình để lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách đi vào thực tế cuộc sống nhân dân, thấy được tổ chức cá nhân nào chấp hành tốt, hoặc tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, có gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết. Đồng thời Người yêu cầu phải luôn luôn chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác giám sát trong Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên. Tác dụng của công tác giám sát, kiểm tra là: “Vì kiểm tra, giám sát có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân.
Do đó mà góp phần vào việc cũng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [46, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; là một khâu quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng; là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Công tác giám sát giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành chưa tốt, có gì đúng, có gì sai, có gì chưa phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết; công tác giám sát giúp cho Đảng và Nhà nước quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của người cộng sản; công tác giám sát còn giúp cho Đảng chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; phòng chống bệnh “quan liêu, bệnh bàn giấy, chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị”, “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững,…” Vì vậy, kiểm tra, giám sát là việc phải làm thường xuyên đối với mọi tổ chức và đảng viên cũng như đối với mọi hoạt động của con người trong xã hội, đặc biệt là đối với chính đảng của giai cấp vô sản và những người cộng 12 sản. Đảng cộng sản Việt Nam, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của dân tộc Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành công tác giám sát. Đảng ta luôn luôn nhận thức đúng đắn và cho rằng, giám sát là công việc không thể thiếu trong quá trình hoạt động lãnh đạo và quản lý, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước. Do đó, Đảng ta rất quan tâm đến việc giám sát hoạt động của tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong Điều lệ Đảng được thông qua tháng 10 năm 1930 đã quy định: trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn kỷ luật Đảng một cách nghiêm khắc.