Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN KIỂM TRA HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. UỶ QUAN KIỂM TRA CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN KIỂM TRA CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ 1. Ủy ban kiểm tra các huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 1. Khái quát về ủy ban kiểm tra các huyện, thị, thành uỷ Thanh Hoá là tỉnh thuộc Bắc Trung bộ, có diện tích tự nhiên là 11.120 km2; dân số hơn 3,7 triệu người; gồm có các dân tộc: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú, trong đó dân tộc Kinh chiếm 83,9%, dân tộc Mường, Thái có số dân đông hơn các dân tộc thiểu số khác.
Phía Bắc tỉnh Thanh Hoá tiếp giáp với tỉnh Ninh Bình; phía Đông giáp với biển Đông (Vịnh Bắc bộ) có chiều dài bờ biển 102 km; phía Tây giáp với tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào có đường biên giới dài 192 km; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An. Thanh Hóa được chia thành ba vùng sinh thái: Vùng Trung du, Miền núi gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, Thạch Thành; vùng đồng bằng, gồm 10 huyện, thị xã, thành phố: Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Yên Định, Thiệu Hóa, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, Thọ Xuân, thị xã Bỉm Sơn, Thành phố Thanh Hóa; vùng ven biển gồm 6 huyện, thị xã: Nga Sơn, Hậu Lộc, thị xã Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Quảng Xương. Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá có 35 đảng bộ trực thuộc, trong đó: 24 đảng bộ huyện, 02 đảng bộ thị xã, 01 đảng bộ thành phố và 8 đảng bộ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.679 đảng viên; sinh hoạt ở 1.671 tổ chức cơ sở đảng, trong đó: có 958 đảng bộ cơ sở và 713 chi bộ cơ sở; có 10. 9 Như vậy, Thanh Hóa có 27 huyện, thị xã và thành phố; số đảng viên là 166.523 tổ chức cơ sở đảng, trong đó: 872 đảng bộ cơ sở và 651 chi bộ cơ sở; có 9.366 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở [Phụ lục số 2].
Thanh Hóa là một tỉnh có điều kiện và nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, là tỉnh có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh đối với khu vực bắc Trung bộ và cả nước. Qua hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, mà trước hết là các cấp ủy đảng trong tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, tích cực và sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên và hơn 3,7 triệu người dân trong tỉnh, Thanh Hóa đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao (10,8%); thu nhập (GDP) bình quân đầu người hàng năm trên 450USD; các tiềm năng và thế mạnh đã được khai thác, phát huy phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh được cải thiện và nâng lên đáng kể.
Chính trị ổn định, trật tự - an ninh được giữ vững; các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), các tổ chức xã hội được củng cố, hoạt động ngày càng có hiệu quả; công tác xây dựng Đảng được coi trọng và đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nghèo; thu nhập (GDP) bình quân đầu người của tỉnh mới bằng hơn một nửa thu nhập (GDP) bình quân của cả nước; khoa học và công nghệ còn ở trình độ thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nhiều nơi xuống cấp. Trên địa bàn tỉnh còn nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết, nhất là những vấn đề xã hội, như: việc làm, thu nhập của dân, chất lượng dạy và học, khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe,. Bên cạnh đó, là các tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, ma túy, mại dâm,.
chưa được ngăn chặn một cách triệt để, còn diễn biến phức tạp. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức còn một bộ phận suy thoái về phẩm chất, đạo đức lối sống; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí chưa được ngăn chặn, tình trạng vi phạm kỷ luật đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước là một trong những vấn đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết. Điều đó đặt ra cho Tỉnh ủy, cấp ủy 10 huyện, thị xã, thành phố Thanh Hóa, UBKT các cấp và các cơ quan chức năng của tỉnh, trong đó UBKT huyện, thị, thành ủy có nhiệm vụ rất nặng nề, phải tập trung giải quyết để đưa tỉnh Thanh Hóa tiến lên, giành thắng lợi to lớn trong những năm tới. UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được thành lập cùng với các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố của tỉnh.
Từ 12 UBKT huyện, thị ủy (năm 1964), đến nay Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã có 27 UBKT huyện, thị, thành ủy, trong đó: 24 UBKT huyện ủy, 02 UBKT thị ủy, 01 UBKT Thành ủy Thành phố Thanh Hóa Từ Đại hội V đến Đại hội IX của Đảng quy định tổ chức bộ máy của UBKT huyện, thị, thành uỷ không có sự thay đổi lớn. Đến Đại hội X, Đảng quy định: UBKT huyện, thị, thành ủy có từ 05 đến 09 thành viên, trong đó chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp uỷ, từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm, trong đó: phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên và một số uỷ viên chuyên trách; 02 ủy viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp. Thực hiện các quy định đó, hiện nay tổng số thành viên của 27 UBKT huyện, thị, thành ủy nhiệm kỳ (2005-2010) là 155 đồng chí, trong đó: nam 136 đồng chí chiếm 87,74%; nữ 19 chiếm 12,26 %; có 27 chủ nhiệm, 36 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm là huyện, thị, thành ủy viên là 25), 40 ủy viên chuyên trách, 52 ủy viên kiêm chức; Về tuổi đời: dưới 35 tuổi là 30 chiếm 19,35% so với nhiệm kỳ (2001- 2005) tăng 24; từ 36 tuổi đến 45 tuổi 79 chiếm 51 %; từ 46 tuổi đến 55 tuổi là 44 chiếm 28,38%; trên 55 tuổi là 02 so với nhiệm kỳ (2001-2005) giảm 15; trình độ lý luận: cử nhân, cao cấp 79 chiếm 50,96%; trung cấp 69 chiếm 44,51 %; sơ cấp 7 chiếm 4,5%; trình độ học vấn: phổ thông trung học 155 đạt 100%; đại học, cao đẳng 106 chiếm 63,38%. Ngoài ra còn có 32 cán bộ giúp việc cho các UBKT huyện, thị, thành ủy [Phụ lục số 3 và số 4].
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ kiểm tra của các huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa có lập trường và bản lĩnh chính trị vững vàng, dám đấu 11 tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, dám nhìn thẳng vào sự thật, có chính kiến và thái độ rõ ràng trong đấu tranh với những hành vi sai trái. Họ là những đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, gương mẫu, có tinh thần xây dựng đoàn kết thống nhất nội bộ, giữ vững nguyên tắc Đảng, phát huy dân chủ, biết lắng nghe ý kiến, phân biệt đúng, sai trong giải quyết và xử lý công việc, đảm bảo tính khách quan, công tâm, trung thực, luôn phấn đấu hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, có uy tín đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tuy nhiên, phần lớn các thành viên UBKT và cán bộ kiểm tra chuyên trách của huyện, thị, thành ủy do chưa được quy hoạch, đào tạo một cách cơ bản; trình độ năng lực còn hạn chế; kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng nói chung và CTKT,GS nhất là CTGS nói riêng còn chưa nhiều; trong khi đó địa bàn công tác rộng và còn nhiều khó khăn, nhất là các huyện miền núi. Số lượng cán bộ kiểm tra lại ít, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành ủy trong thời gian qua.
Chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa hoạt động dưới sự lãnh đạo của huyện, thị, thành ủy, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBKT huyện, thị, thành ủy. Chức năng, nhiệm vụ của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa phát triển theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh và sự phát triển về nhiệm vụ CTKT của Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Trước Đại hội VI, Đảng quy định cơ quan kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, gọi tắt là kiểm tra đảng viên vi phạm, đã đem lại tác dụng tốt. Song bước vào thời kỳ đổi mới, quy định đó đã tỏ ra bất cập trước quy mô rộng lớn, tính chất phức tạp của công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo và môi trường hoạt động phức tạp của đảng viên, hạn chế 12 nhất định đến chất lượng CTKT, nhất là việc chủ động và tác dụng ngăn chặn vi phạm.
Từ thực tế đó, tại Đại hội VI, Đảng đã quy định chuyển từ kiểm tra đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, sang kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, gọi tắt là kiểm tra đảng viên chấp hành. Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quy định đó thể hiện hiện rõ những hạn chế, bất cập, vì phạm vi kiểm tra rộng, dễ bỏ qua những trọng điểm phải kiểm tra. Tại Đại hội VIII, Đảng đã quy định UBKT các cấp kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm. Tức là đã chuyển từ kiểm tra đảng viên chấp hành sang kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm.
Điều đó đã làm tăng tính tích cực phòng ngừa của công tác kiểm tra. Đến Đại hội X, Đảng ta lại chính thức bổ sung chức năng, nhiệm vụ giám sát cho UBKT các cấp, cụ thể là: Điều lệ Đảng khóa VIII đã quy định về nhiệm vụ của UBKT các cấp: 1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên 2.