Chương 1: Cơ sở khoa học về giám sát của cấp Hội đồng nhân dân cấp huyện. Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Giám sát Thuật ngữ “giám sát” được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Có quan niệm cho rằng, giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá của chủ thể này đối với chủ thể khác nằm bên ngoài quan hệ trực thuộc nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và hiệu quả.
Hoặc quan niệm khác, giám sát là: sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định. Theo từ điển tiếng Việt, giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ [43]. Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, khái niệm “giám sát” được giải thích: Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý [34, tr. Như vậy, có nhiều cách diễn đạt khác nhau của từ “giám sát”, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó có biện pháp điều 8 chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ.2 Hoạt động giám sát Hoạt động giám sát là hoạt động thường xuyên của chủ thể giám sát đối với đối tượng chịu sự giám sát.
Giám sát được tiến hành bằng cách xem xét báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất công việc của đối tượng chịu sự giám sát. Trong quá trình nghe báo cáo, tường trình, các đại biểu dân cử có thể chất vấn người báo cáo. Nguyên tắc hoạt động giám sát phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Khác với giám sát, hoạt động thanh tra, kiểm tra đòi hỏi phải có lý do và cơ sở pháp lý nhất định.
Lý do có thể là những bất cập, bức xúc, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Do vậy, phải có quyết định thành lập Ban kiểm tra, nêu rõ lý do, phạm vi, thời gian kiểm tra, đối tượng chịu sự kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra.3 Hội đồng nhân dân 1.1 Vị trí, vai trò Điều 113 Hiến pháp năm 2013 xác định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”; Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Với vị trí pháp lý mà Hiến pháp quy định thì HĐND phải thực hiện hai 9 vai trò; vai trò thứ nhất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương) và vai trò thứ hai là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân. Hai vai trò này không có sự độc lập tuyệt đối mà có sự đan xen thể hiện qua hai chức năng của HĐND đó là chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và chức năng giám sát.
Thứ nhất, HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương. Ở địa phương, HĐND là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín; hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể. Mọi quyết định của Hội đồng được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong hội đồng.
Mỗi HĐND có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một nhóm, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương. Tính chất đại diện của HĐND khác với tính chất đại diện của Quốc hội. Hiến pháp năm 2013 xác định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân (Điều 69); đại biểu Quốc hội là đại diện cho nhân dân cả nước (Điều 79).
Còn HĐND là cơ quan chỉ đại diện cho nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên. Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thể hiện ở các mặt sau đây: - Được thành lập bởi các đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân. 10 - Có quyền căn cứ vào pháp luật, bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp; cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra. - Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương.
- Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, đồng thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của Ủy ban thường vụ Quốc hội và hướng dẫn, kiểm tra của Chính phủ. Như vậy, tính chất quyền lực của HĐND được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng xét về mặt địa vị pháp lý không giống với Quốc hội. Quốc hội được Hiến pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước cả về phạm vi, cấp độ cũng như thẩm quyền, đặc biệt là quyền ban hành Hiến pháp, pháp luật. Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp.
HĐND cũng là cơ quan quyền lực nhà nước nhưng chỉ có quyền ban hành Nghị quyết - là loại văn bản pháp quy dưới luật, phải phù hợp với văn bản pháp luật vì xuất phát từ tính chất đại diện của hội đồng.2 Nhiệm vụ, quyền hạn Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định rất cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp, trong đó tại điều 26 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện: - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; - Tham gia xây dựng chính quyền; - Quyết định các nội dung quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường; 11 - Quyết định các nội dung quan trọng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; - Quyết định các nội dung quan trọng trong lĩnh vực y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội; - Quyết định các nội dung quan trọng trong công tác dân tộc, tôn giáo; - Quyết định các nội dung quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; - Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã; - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.4 Hội đồng nhân dân huyện HĐND huyện là một cơ quan của chính quyền địa phương ở huyện do cử tri ở huyện bầu ra trong nhiệm kỳ là 5 năm. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn chung của HĐND, HĐND huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương ở huyện. HĐND huyện cùng với Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể hóa những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện, có 05 nhiệm vụ, quyền hạn trong đó có nhiệm vụ, quyền hạn: giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND huyện; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát 12 nhân dân cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã [34].5 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan khác, hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện bao gồm giám sát của ĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực ĐND, các ban của ĐND, Tổ đại biểu ĐND và các đại biểu ĐND nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như nghị quyết của ĐND cấp huyện.
Mục đích của hoạt động giám sát là để kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật hay lạm quyền trong hoạt động quản lý, đưa ra các phân tích, đánh giá để đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.