Luận văn thạc sĩ về dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, Bình Dương

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường thpt chuyên hùng vương tỉnh bình dương, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

ABSTRACT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11

1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1. Trên thế giới

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.2.1. Chương trình

1.2.2. Phương pháp dạy học

1.3. HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

1.3.1. Một số khái niệm về tự học

1.3.2. Đặc điểm hoạt động tự học

1.3.3. Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh

1.4. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

1.4.1. Phân loại PTDH

1.4.2. Tính chất PTDH

1.4.3. Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học

1.4.4. Cơ sở chung để lựa chọn phương tiện dạy học

1.5. DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA

1.5.1. Đại cương về phương pháp dạy học theo chương trình hóa

1.5.2. Đặc điểm của dạy học theo chương trình hóa

1.5.3. Cấu trúc của chương trình dạy

1.5.4. Các kiểu chương trình dạy

1.5.5. Qui trình xây dựng bài dạy theo dạy học chương trình hóa

1.5.6. Phương tiện dạy học theo chương trình hóa

1.5.7. Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo chương trình hóa

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

2.1. TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG

2.1.1. Lịch sử hình thành

2.1.2. Cơ cấu tổ chức

2.1.3. Thành tích đạt được

2.2. MÔN CÔNG NGHỆ 11

2.2.1. Vị trí môn Công nghệ 11

2.2.2. Đặc điểm nội dung môn Công nghệ 11

2.2.3. Mục tiêu chương trình môn Công nghệ 11

2.2.4. Chương trình môn Công nghệ 11

2.3. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG

2.3.1. Mục đích khảo sát

2.3.2. Nội dung khảo sát

2.3.3. Đối tượng khảo sát

2.3.4. Kỹ thuật khảo sát

2.3.5. Tiêu chí đánh giá

2.3.6. Phân tích thực trạng tổ chức dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

3.1. NỘI DUNG CHƯƠNG “ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG”

3.1.1. Mục tiêu của chương

3.1.2. Cấu trúc nội dung các bài dạy trong chương

3.2. QUI TRÌNH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 11 THEO DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA

3.2.1. Bài “Nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong”

3.2.2. Bài “Thân máy và nắp máy”

3.2.3. Bài “Cơ cấu trục khuỷu thanh truyền”

3.3. TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11

3.4. KIỂM NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ

3.4.1. Mục đích thực nghiệm

3.4.2. Đối tượng thực nghiệm

3.4.3. Thời gian, địa điểm thực nghiệm

3.4.4. Cách tiến hành thực nghiệm

3.5. Tiêu chí và thang đo thực nghiệm

3.6. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tại sao cần nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 11

Môn Công nghệ 11 đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức và kỹ năng cho học sinh, giúp các em hiểu rõ hơn về công nghệ và ứng dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện nay, môn học này thường bị xem nhẹ trong chương trình học. Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 11 không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

1.1. Tầm quan trọng của môn Công nghệ trong giáo dục

Môn Công nghệ không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp học sinh phát triển kỹ năng thực hành. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh hiện đại, khi mà công nghệ ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.

1.2. Thực trạng dạy học môn Công nghệ 11 tại THPT chuyên Hùng Vương

Tại trường THPT chuyên Hùng Vương, việc dạy học môn Công nghệ 11 vẫn còn nhiều hạn chế. Giáo viên thường sử dụng phương pháp truyền thống, dẫn đến sự thiếu hứng thú của học sinh đối với môn học này.

II. Những thách thức trong việc dạy học môn Công nghệ 11

Việc dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này không chỉ đến từ phương pháp giảng dạy mà còn từ sự thiếu hụt về tài liệu và thiết bị dạy học.

2.1. Phương pháp dạy học chưa đổi mới

Nhiều giáo viên vẫn áp dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, khiến học sinh không có cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế. Điều này làm giảm tính hấp dẫn của môn học.

2.2. Thiếu tài liệu và thiết bị dạy học

Sự thiếu hụt tài liệu và thiết bị dạy học hiện đại cũng là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng dạy học môn Công nghệ 11 chưa đạt yêu cầu. Việc này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

III. Phương pháp dạy học hiệu quả cho môn Công nghệ 11

Để nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 11, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại và hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn mà còn kích thích sự sáng tạo và tư duy độc lập.

3.1. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập, từ đó giúp các em phát triển kỹ năng tự học và tư duy phản biện.

3.2. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp cận với kiến thức mới và thực hành các kỹ năng cần thiết trong môi trường học tập hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn của môn Công nghệ 11

Môn Công nghệ 11 không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống. Việc hiểu rõ các ứng dụng này sẽ giúp học sinh thấy được giá trị của môn học.

4.1. Ứng dụng công nghệ trong đời sống hàng ngày

Học sinh sẽ được tìm hiểu về cách mà công nghệ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, từ các thiết bị điện tử đến các ứng dụng trong sản xuất và dịch vụ.

4.2. Kỹ năng nghề nghiệp từ môn Công nghệ

Môn Công nghệ 11 trang bị cho học sinh những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, giúp các em tự tin hơn khi bước vào thị trường lao động trong tương lai.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho môn Công nghệ 11

Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 11 là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự đầu tư và đổi mới trong phương pháp giảng dạy để môn học này thực sự phát huy được vai trò của mình trong giáo dục.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học

Cần xây dựng một kế hoạch cụ thể để cải thiện chất lượng dạy học, bao gồm việc đào tạo giáo viên, cập nhật tài liệu và thiết bị dạy học.

5.2. Tương lai của môn Công nghệ trong giáo dục

Môn Công nghệ sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong giáo dục, góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường thpt chuyên hùng vương tỉnh bình dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11 1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, dù ở bất kì hình thái xã hội nào thì vai trò của giáo dục cũng luôn được con người quan tâm hàng đầu. Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội, các nhà giáo dục trên thế giới luôn nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả nhằm giúp người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, phát huy tối đa năng lực cá nhân của người học. Trong bối cảnh đó, dạy học theo chương trình hóa đã ra đời và nó đã nâng hoạt động giảng dạy lên một tầm cao mới.

Cách đây khoảng 90 năm phương pháp dạy học theo chương trình hóa đã ra đời, nhưng từ khi khoa học điều khiển và tin học phát triển thì các nhà giáo dục mới ấn tượng thực sự về hiệu quả của phương pháp này mang lại. Dạy học theo chương trình hóa lấy tên gọi từ khái niệm “chương trình” của máy tính, vận dụng vào dạy học để chỉ sự xây dựng chương trình học cho người học một cách đặc biệt. Đó là hình thức học nhằm điều khiển tối ưu việc học của cá nhân học sinh thông qua việc tích cực, chủ động học tập theo chương trình mà giáo viên đã thiết kế. Một trong những người nghiên cứu đầu tiên về dạy học theo chương trình hóa là nhà tâm lý học người Ba Lan Stanistaw – Trebixky vào những năm 20.

Đến năm 1924, vận dụng lý thuyết dạy học theo chương trình L. Pressey đã sáng chế ra máy dạy học đầu tiên dựa trên hệ thống câu hỏi trắc nghiệm. Chiếc máy này sẽ cho học sinh biết kết quả lựa chọn của mình là đúng hay sai thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, nếu trả lời đúng máy sẽ tự động chuyển sang câu hỏi tiếp theo, nếu sai thì vẫn giữ nguyên màn hình câu hỏi cũ. Khi học tập với máy, học sinh không đơn thuần chỉ là nghe, nhìn hay đọc chép một cách thụ động, mà còn phải chủ động suy nghĩ để tìm HVTH: NGUYỄN MINH VƯƠNG Luận văn Thạc sĩ 6 ra đáp án của câu hỏi bằng những kiến thức vừa học.

Những câu trả lời của học sinh dù đúng hay sai đều được lưu lại để làm cơ sở cho việc cải tiến, điều chỉnh các câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với khả năng nhận thức của người học. Pressey đã chỉ rõ việc dạy học tự động sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố ngay kiến thức mà học sinh vừa học, giúp mỗi học sinh có thể học tập theo nhịp độ riêng của cá nhân, rèn luyện tính tích cực, chủ động trong hoạt động học tập.F Skinner một trong những bậc thầy về thuyết hành vi đã đưa ra khái niệm về dạy học theo chương trình hóa thu hút được sự chú ý của hầu hết các nhà khoa học thời bấy giờ. Lý thuyết của Skinner so với các nhà nghiên cứu trước có hai điểm nổi bật: Thứ nhất Ông đã đưa ra chương trình kiểu đường thẳng gồm một chuỗi liên tiếp các bước học tập cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu mong muốn, nghĩa là tài liệu dạy học phải được thiết kế cẩn thận, theo trật tự logic, kiến thức bài trước là nền tảng cho việc học kiến thức bài tiếp theo. Thứ hai, Ông muốn học sinh tự đưa ra câu trả lời riêng của bản thân chứ không nên thừa nhận những câu trả lời mà giáo viên soạn trước, người học phải nhớ lại kiến thức và diễn đạt theo ngôn ngữ của bản thân chứ không đơn thuần chỉ là học thuộc lòng.

Từ đó, Ông đã vận dụng quan điểm mới của mình vào chiếc máy dạy học với chương trình được thiết kế gồm chuỗi liên tiếp các bước nhỏ và hệ thống câu hỏi mà đáp án phải do học sinh tự điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh nội dung. Năm 1959, trong quá trình nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa A. Crowder đã nhận ra rằng: sai lầm trong học tập của học sinh cần phải được hướng dẫn để họ tự khắc phục, tạo điều kiện cho việc sắp xếp, liên kết kiến thức đã học để giải quyết nhiệm vụ học tập. Theo Crowder, khi thiết kế chương trình, nếu lượng thông tin trong mỗi bước quá lớn thì sẽ rất khó cho giáo viên trong việc xây dựng chương trình kiểu đường thẳng.

Vì vậy, phương án mà Ông đưa ra là khi thiết kế chương trình dạy học, ngoài việc biên soạn câu trả lời giáo viên sẽ cung cấp thêm các thông tin kiến thức bổ sung, để sau khi trả lời nếu đúng học sinh sẽ biết được vì sao mình chọn đúng, và nếu trả lời sai thì họ sẽ nhận được những kiến thức bổ sung giải thích nguyên nhân sai HVTH: NGUYỄN MINH VƯƠNG Luận văn Thạc sĩ 7 lầm nhằm khắc phục trong lần chọn tiếp theo. Crowder gọi chương trình dạy học như trên là dạy học theo chương trình hóa kiểu phân nhánh. Và đến năm 1970, khi mà các trường học phần lớn được trang bị hệ thống máy vi tính là thời kì đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của dạy học theo chương trình. Các chương trình được thiết kế để học sinh có thể học tập trên máy vi tính bằng các phần mềm hỗ trợ giáo dục với những tính năng vượt trội về màu sắc, âm thanh, đa phương tiện.

Ngoài ra cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu sinh liên quan đến dạy học theo chương trình hóa như: Năm 1971, Joseph Lee Humphrey đã nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa với tên đề tài “An inquiry into programmed instruction as a pedagogical technique in accounting education”. Tác giả đã làm rõ mức độ có thể ứng dụng dạy học theo chương trình hóa vào giảng dạy kế toán, cũng như giải thích nguyên nhân tại sao cần phải sử dụng dạy học theo chương trình hóa trong lĩnh vực kế toán. Qua đó, tác giả đã rút ra được ưu nhược điểm của phương pháp để làm cơ sở cho việc sử dụng dạy học theo chương trình hóa như là một công cụ sư phạm dùng trong dạy học chuyên ngành kế toán. Có thể nói đề tài đã có những đóng góp quan trọng, là tiền đề cho việc nghiên cứu ứng dụng dạy học theo chương trình hóa cho nhiều lĩnh vực khác về sau.

Scherer đã nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa với đề tài “Reinforcement and punishment during programmed instruction”. Tác giả đã nghiên cứu đến các yếu tố làm tăng cường động cơ học tập của học sinh khi học tập với chương trình hóa, cũng như đưa ra các hình phạt nhằm răng đe việc học sinh trả lời cẩu thả các câu hỏi mang tính đối phó trong khi học. Kết quả cho thấy, việc áp dụng các hình phạt khi dạy học theo chương trình hóa đã làm cho học sinh học tập nghiêm túc và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đề tài cũng còn hạn chế khi chưa xét đến việc đưa ra các hình phạt quá nhiều sẽ làm cho học sinh có cảm giác nản lòng khi học.Canton trường đại học miền nam Florida đã có đề tài nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa “Effects of constructed response contingencies in web-based programmed instruction on graphing compared to cued-text HVTH: NGUYỄN MINH VƯƠNG Luận văn Thạc sĩ 8 presentation of the same information”.

Trong đề tài này, tác giả đã xây dựng tài liệu dạy học theo chương trình hóa trên website và sau đó tiến hành thực nghiệm để khảo sát kết quả học tập của hai nhóm sinh viên. Một nhóm học với tài liệu in trên giấy, nhóm còn lại học trên web với các bước học tập được lập trình theo trình tự logic. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên đã thể hiện được tính tích cực, chủ động thông qua việc học với chương trình dạy trên web rất nhiều so với những sinh viên học với tài liệu trên giấy. Tuy nhiên, đề tài này chỉ thích hợp khi mà các trường học được trang bị đầy đủ các máy vi tính có kết nối mạng internet do đó khó áp dụng đại trà.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học theo chương trình hóa được đề cập đến vào đầu những năm 90.

Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp này cũng chưa được phổ biến rộng rãi. Từ đó, các nhà giáo dục trong nước đã tham gia nghiên cứu nhằm triển khai phương pháp dạy học này trong nhà trường nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy. - Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Kỳ trong giáo trình “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”[18] tác giả cho rằng phương pháp dạy học không phải chỉ là việc giáo viên giảng bài và học sinh lắng nghe ghi chép, mà phải có một sự tổ chức khoa học và bao gồm hệ thống các cách thức hoạt động học tập của học sinh để chiếm lĩnh tri thức dưới sự định hướng, giám sát của giáo viên nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề, phát triển tư duy từ đó hình thành nhân cách. Đồng thời, giáo viên cần chú ý tới việc tạo ra môi trường thuận lợi để kích thích sự tò mò khoa học, gây được hứng thú học tập ở người học.

Tuy nói về phương pháp dạy học nói chung, nhưng ở đây tác giả Nguyễn Kỳ đã đề cập đến các điểm mới của phương pháp dạy học tích cực mà dạy học theo chương trình hóa là một trong những phương pháp thỏa mãn được những yêu cầu trên. Từ đó cho thấy các nhà giáo dục Việt Nam cũng rất quan tâm về các lý thuyết dạy học hiện đại để vận dụng vào thực tế. - Tác giả Nguyễn Văn Bính với giáo trình “Phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp – Tập 1 Phần đại cương”[4] xem dạy học theo chương trình hóa như là một HVTH: NGUYỄN MINH VƯƠNG Luận văn Thạc sĩ 9 trong những phương pháp dạy học tích cực. Trong đó giáo viên sẽ là người thiết kế chương trình, chia nội dung dạy học ra nhiều bước học tập nhỏ và hướng dẫn học sinh học theo chương trình trên giấy hoặc trên máy tính.

Theo tác giả vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, hỗ trợ cho học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức học tập. - Cũng với giáo trình cùng tên nhưng được xuất bản vào năm 2007, tác giả Dương Phúc Tý[30] đã kế thừa những quan điểm về dạy học theo chương trình hóa của các nhà giáo dục trước đó. Đồng thời trong tài liệu của mình, tác giả đã vận dụng lý thuyết để đưa ra những ví dụ cụ thể về xây dựng các liều kiến thức của gia công chi tiết trên máy tiện, theo kiểu chương trình phân nhánh trên các phiếu học tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 11 tại THPT chuyên Hùng Vương" tập trung vào việc cải thiện phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 11. Tài liệu này đề xuất các chiến lược giảng dạy hiện đại, giúp giáo viên phát triển kỹ năng và kiến thức cho học sinh, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và sáng tạo. Những điểm nổi bật bao gồm việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, khuyến khích tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh, cũng như xây dựng các hoạt động học tập thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vnu ued xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm tích hợp đa phương tiện trong dạy học phần sinh học tế bào sinh học 10 trung học phổ thông, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ vnu ued phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên hóa trường thpt chuyên thái bình qua dạy học bài tập phần hóa học đại cương cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển tư duy sáng tạo trong học sinh. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ vnu ued rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học nội dung phương trình lượng giác sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp rèn luyện tư duy cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp giảng dạy hiệu quả trong giáo dục hiện đại.