Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt động liên kết đào tạo - Chương 2: Thực trạng hoạt động liên kết đào tạo tại Khoa Đại học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động liên kết giữa Khoa Đại học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cơ sở liên kết đào tạo. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề Lâu nay khi nói đến đào tạo đại học thì người ta hiểu là đào tạo đại học chính quy, còn đào tạo đại học tại chức dường như chưa được quan tâm một cách đầy đủ, mặc dù đào tạo đại học tại chức được tiến hành từ rất sớm. Khoa Đại học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập từ năm 1961 đến nay vừa tròn 45 năm.
Tuy được hình thành từ rất lâu nhưng ngoài quy chế đào tạo tại chức 3585 được ban hành từ năm 1994 vẫn còn nguyên hiệu lực, quy chế đó nay có nhiều điểm đã lạc hậu, không còn phù hợp. Hầu như mảng đào tạo đại học tại chức vẫn là một khoảng đất trống chưa được các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những giải pháp hữu hiệu cũng như các phương pháp tổ chức đào tạo, để nâng cao chất lượng đào tạo cho hệ đào tạo này. Năm 2004 mới có một vài cuộc hội thảo của các nhà khoa học, các giảng viên của các trường đại học bàn về quy chế đào tạo đại học tại chức nhằm thay thế quy chế 3585 đã lỗi thời, tuy nhiên cho đến nay gần 3 năm trôi qua quy chế mới này vẫn chưa được ban hành. Trong tình trạng chung thì vấn đề liên kết đào tạo lại càng ít được quan tâm hơn.
Tổ chức liên kết đào tạo như thế nào để đạt được chất lượng đào tạo cao nhất vẫn là vấn đề chưa được nhìn nhận nghiên cứu đầy đủ mặc dù việc liên kết đào tạo đại học tại chức là việc làm phổ biến của các trường đại học trong việc tuyển 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh, đào tạo đại học tại chức, chứ không riêng gì Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào phân tích, đánh giá thực trạng sự liên kết đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở đào tạo. Trong luận văn này tôi cố gắng phân tích một cách toàn diện thực trạng của mối liên kết đào tạo ở Khoa Đại học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và bước đầu đề xuất một số biện pháp quản lý liên kết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học tại chức. Luật Giáo dục mới được ban hành năm 2005 điều 46 quy định: “Cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng(CĐ), bằng tốt nghiệp đại học(ĐH) chỉ được liên kết với cơ sở giáo dục địa phương là trường ĐH, trường CĐ, trường trung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh với điều kiện cơ sở giáo dục tại địa phương đảm bảo các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý cho việc đào tạo trình độ CĐ, trình độ ĐH”.
Đây chính là cơ sở cho những vấn đề tổ chức liên kết đào tạo. Quản lý Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “tổ chức”. Tổ chức là thể nền của quản lý vì thế khi nói đến quản lý ta cần bắt đầu từ khái niệm “tổ chức”. Tổ chức là một nhóm có cấu trúc nhất định liên kết những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẽ không thể nào đạt đến.
Đặc trưng của tổ chức bao gồm các tiêu chí sau: - Lý tưởng, sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức. - Quy mô của tổ chức. - Cơ cấu thiết chế của tổ chức. - Nội dung công việc của tổ chức.
- Điều kiện tồn tại và phát triển của tổ chức. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nói về phạm trù tổ chức và quản lý người ta thường nhìn nhận theo các quan điểm sau: - Phạm trù “tổ chức” trùm lên phạm trù quản lý với hàm ý có “tổ chức” mới có quản lý - Hai phạm trù này tích hợp vào nhau, lồng ghép vào nhau - “Tổ chức” chỉ là bộ phận của quản lý song là bộ phận quan trọng và then chốt nhất. Quá trình phát triển về mặt lý luận của hai lĩnh vực này có thể khu biệt thành khoa học tổ chức, khoa học quản lý. Tuy nhiên trên thực tiễn vấn đề tổ chức và vấn đề quản lý trong công việc, trong từng hoạt động cụ thể luôn bổ sung cho nhau, chuyển hoá cho nhau, gắn kết với nhau.
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy hoạt động quản lý là gì ? Định nghĩa kinh điển nhất là: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Vậy hoạt động quản lý là hoạt động mang tính xã hội, bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác lao động nhằm đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi phải có kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra tức là các yếu tố quản lý. Trong lịch sử phát triển khoa học quản lý, nhiều định nghĩa về quản lý đã được các nhà khoa học đưa ra như sau: Một số tác giả Trung Quốc quan niệm rằng quản lý bao gồm 2 quá trình “Quản” và “Lý” có quan hệ biện chứng qua lại với nhau, trong “quản” có “lý” và trong “lý” có “quản”.
“Quản” là quá trình coi sóc, giữ gìn để hệ tồn tại ở 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trạng thái ổn định, còn lý là quá trình sắp xếp, sửa sang, đổi mới để hệ vừa ổn định, vừa phát triển đảm bảo tính cân bằng động của hệ thống. “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” (Đại bách khoa toàn thư Liên Xô - 1997). “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harol Koontz, O’Donnell, Heinz Weihrich).
Từ các định nghĩa về quản lý chúng ta có thể thấy rằng nói đến quản lý là nói đến các thành tố sau: - Phải có chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động. Chủ thể quản lý có thể là một người hay một nhóm người. - Có đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý. Đối tượng quản lý có thể là một người hay một nhóm người - Có mục tiêu quản lý được đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng quản lý, mục tiêu này là căn cứ, là định hướng cho chủ thể sáng tạo ra các tác động.
- Chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý bằng các phương pháp quản lý và dựa trên những công cụ quản lý. Các thành tố trên không tách rời nhau mà gắn bó tương tác với nhau. Có thể nói bản chất của quản lý là sự tác động có ý thức và bằng quyền lực của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy vai trò của mỗi thành viên trong tổ chức, làm cho tổ chức được vận hành trơn tru đạt được mục tiêu đề ra. Việc chủ thể thực hiện các tác động có chủ đích, có kế hoạch chỉ dẫn, điều tiết, phối hợp hoạt động của cấp dưới đó chính là việc thực hiện các chức năng quản lý.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để hoạt động quản lý trong một tổ chức có hiệu quả người quản lý phải biết vận dụng các chức năng đặc trưng của hoạt động quản lý: - Kế hoạch (xây dựng kế hoạch quản lý) - Tổ chức (thiết lập cơ chế tổ chức quản lý) - Chỉ đạo các hoạt động và quan hệ tổ chức - Kiểm tra, theo dõi, giám sát đánh giá kết quả và hiệu quả việc thực hiện kế hoạch đồng thời sử dụng hệ thống những phương pháp đặc trưng trong quản lý như: - Phương pháp tổ chức hành chính - Phương pháp giáo dục - Phương pháp tâm lý xã hội - Phương pháp kinh tế. Trên cơ sở đó người quản lý tìm cách điều khiển các hoạt động và quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, giữa các bộ phận trong tổ chức, đồng thời dùng các công cụ quản lý để điều hoà các mối quan hệ giữa tổ chức của mình với các tổ chức khác trong cộng đồng xã hội mà tổ chức quan hệ. Trong việc giải quyết các mối quan hệ, người quản lý cũng cần quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa tổ chức mình với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, nhưng điều quan trọng nhất là làm sao để hoạt động của tổ chức đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra. Các chức năng và vai trò quản lý 1.
Các chức năng quản lý Hoạt động quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ với nhau trong một thể thống nhất, có bốn chức năng quản lý chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Lãnh đạo-Chỉ đạo; Kiểm tra. - Kế hoạch hoá 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hoá là một chức năng quản lý và là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với kết quả trong tương lai của tổ chức và là con đường, biên pháp, cách thức để đạt được mục tiêu mục đích đó.