Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng đãi ngộ tài chính đối với lao động phổ thông tại công ty TNHH Tiến Động” Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đãi ngộ tài chính đối với lao động phổ thông trong các doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng đãi ngộ tài chính đối với lao động phổ thông tại công ty TNHH Tiến Động Chương 4: Kết luận và đề xuất hoàn thiện công tác đãi ngộ tài chính đối với lao động phổ thông tại công ty TNHH Tiến Động CHƯƠNG 2 TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÃI NGỘ TÀI CHÍNH 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm lao động phổ thông Việt Nam là nước đang phát triển với dân số trên 86 triệu người 1trong đó tỷ lệ lao động phổ thông trong cơ cấu dân số chiếm tỷ lệ lớn. Vậy, lao động phổ thông là gì? Lao động phổ thông là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong xã hội.
Nó được hiểu một cách đơn giản theo 2 cách như sau: 1 Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 theo Vneconomy.vn Luận văn tốt nghiệp 4 Luan van GVHD: PGS. Nguyễn Doãn Thị Liễu Thứ nhất, lao động phổ thông là những người lao động làm những công việc giản đơn, làm việc chân tay2. Những công việc đơn giản, chỉ cần người lao động thực hiện thao tác chân tay là hoàn thành quá trình lao động. Thứ hai, lao động phổ thông là lao động giản đơn, lao động không đòi hỏi phải đào tạo về chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó.
3 Theo định nghĩa này, khái niệm lao động phổ thông cũng không khác xa xo với khái niệm thứ nhất. Nhưng khái niệm này nhấn mạnh, người lao động không cần qua đào tạo cũng có thể thực hiện được, và hoàn thành được công việc được giao. Do đó, người lao động phổ thông không đòi hỏi phải qua đào tạo về chuyên môn và cũng không đòi hỏi người lao động phải có chuyên môn cao. Như vậy, chúng ta có thể hiểu lao động phổ thông là những người lao động không cần qua đào tạo về chuyên môn cũng có thể đảm nhận và hoàn thành công việc đơn giản, công việc chân tay mà họ được giao.2 Đặc điểm của lao động phổ thông trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại Sau khi quan sát, tìm hiểu lao động phổ thông tại nhiều doanh nghiệp sản xuất và thương mại, em rút ra 5 đặc điểm cơ bản của lao động phổ thông trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại như sau: Thứ nhất, lao động phổ thông là người lao động có trình độ văn hoá thấp.
Đa số trình độ văn hoá của người lao động phổ thông chỉ từ hết cấp 2 hoặc hết cấp 3. Trình độ chuyên môn của họ cũng không cao do yêu cầu tính chuyên môn trong công việc họ đảm nhận không cao. Đó chỉ là nhưng công việc giản đơn, công việc chân tay, không yêu cầu người lao động phải có trình độ chuyên môn cao. Thứ hai, hầu hết lao động phổ thông trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại có xuất thân từ nông dân do vậy họ có bản tính cần cù, chăm chỉ.
Do làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất thương mại ổn định hơn làm nông nghiệp, tranh thủ được thời gian rảnh theo vụ mùa và nó mạng lại thu nhập cao hơn cho người lao động; hoặc do sự chuyển đổi cơ cấu ở địa phương nên người nông dân không còn đất canh tác mà chuyển sang làm công nhân tại các doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Do đó, lao động phổ thông có những phẩm chất tốt của người nông dân Việt Nam là cần cù, chăm chỉ, siêng năng, chịu được nặng nhọc…. Thứ ba, lao động phổ thông là những người chưa qua đào tạo, tay nghề thấp và chủ yếu được đào tạo trong quá trình làm việc. Do yêu cầu, đòi hỏi để đảm nhận công 2 Theo rfi.fr Việt Nam 3 Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam Luận văn tốt nghiệp 5 Luan van GVHD: PGS.
Nguyễn Doãn Thị Liễu việc của lao động phổ thông là thấp nên, họ không cần phải qua bất kì khoá đào tạo nào về chuyên môn. Công việc họ đảm nhận là công việc đơn giản, chân tay nên họ sẽ được chỉ bảo, đào tạo ngay trong quá trình làm việc. Hình thức này giúp người lao động nắm bắt công việc nhanh, hiệu quả mà lại không tốn chi phí và thời gian đào tạo. Thứ tư, tính kỷ luật của lao động phổ thông chưa cao, do trình độ dân trí thấp nên họ không biết hết các quyền lợi của mình như Y tế, bảo hiểm….
Một trong những hạn chế lớn nhất của lao động phổ thông đó chính là sự hiểu biết các quyền lợi và các nghĩa vụ của mình nên họ không được hưởng hết những ưu đãi theo quy định. Thứ năm, tính chuyên môn hoá trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại ở Việt nam chưa cao nên một người lao động vẫn phải làm nhiều việc khác nhau, ở nhiều vị trí, bộ phận khác nhau. Đây là đặc điểm thấy rõ trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại ở Việt Nam ta hiện nay. Việc người lao động phải đảm nhận cả những công việc khác ngoài công việc chính của họ khiến hiệu quả làm việc của họ không cao, không chuyên tâm vào công việc của mình.3 Vai trò của lao động phổ thông trong doanh nghiệp sản xuất và thương mại Trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại, số lượng lao động phổ thông chiếm số lượng lớn trong tổng số cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp.
Đó là lực lượng hùng hậu, có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sản xuất, lao động phổ thông là lực lượng trực tiếp sản xuất làm ra sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì sản xuất là hoạt động chủ yếu. Người lao động là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm, trực tiếp biến nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm, bán sản phẩm đầu ra.
Lao động phổ thông đảm nhận được những công việc mà lao động có trình độ không muốn đảm nhận và máy móc, thiết bị cũng chưa thể thay thế được. Sử dụng lao động phổ thông giúp doanh nghiệp giảm được chi phí tiền lương. Chi phí tiền lương của cơ sở kinh doanh bao gồm các khoản tiền lương, tiền công, phụ cấp phải trả cho người lao động theo quy định của Bộ Luật lao động. Do hiện nay nguồn cung lao động phổ thông ngày càng lớn nên các doanh nhiệp trong ngành sử dụng lao động phổ thông cũng giảm được chi phí tiền lương phải trả cho người lao động của các ngành này.
Đối với doanh nghiệp nói riêng, sử dụng lao động phổ thông cũng giúp giảm chi phí tiền lương của doanh nghiệp do yêu cầu và thang bảng lương của lao động phổ thông không cao. Lao động phổ thông có tính trung thành cao. Do đó, doanh nghiệp có thể chủ động tránh những thay đổi nhân sự từ lực lượng lao động này. Giảm được những chi Luận văn tốt nghiệp 6 Luan van GVHD: PGS.
Nguyễn Doãn Thị Liễu phí phát sinh khi phải tuyển lao động mới và giữ sự ổn định trong tiến độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu nhà quản trị là người hoạch định chiến lược, chính sách, kế hoạch thì người lao động chính là đội ngũ hiện thực hoá những chiến lược, chính sách, và kế hoạch đó và lao động phổ thông là lực lượng quyết định việc hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng các kế hoạch, chiến lược đó. Một số lý thuyết cơ bản về đãi ngộ nhân sự và đãi ngộ tài chính. Đãi ngộ nhân sự a.
Khái niệm Đãi ngộ nhân sự là một bộ phận quan trọng trong khoa học quản trị nhân sự, bởi nó ảnh hướng đến động lực làm việc của người lao động. Có nhiều sự định nghĩa về đãi nhộ như: Đãi ngộ là sự nhìn nhận và thừa nhận của doanh nghiệp về các nỗ lực của nhân viên Đãi ngộ là quá trình bù đắp các hao phí lao động của người lao động cả về thể chất lẫn tinh thần Đãi ngộ là là khoản tiền mà người lao động nhận được cho sự thực hiện công việc và đóng góp của họ vào thành công của doanh nghiệp. Đãi ngộ nhân sự là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, đãi ngộ nhân sự là một quá trình gồm hai hoạt động có liên quan chặt chẽ đến thoả mãn hai nhóm nhu cầu cơ bản của người lao động: chăm lo đời sống vật chất và chăm lo đời sống tinh thần.
Hai hoạt động này được giới hạn trong một khung khổ cụ thể, đó là mục tiêu của doanh nghiệp. Đãi ngộ nhân sự là quá trình, mà trong đó thể hiện những quan hệ nhân sự cơ bản nhất của doanh nghiệp: quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, quan hệ giữa nhà quản trị và nhân viên dưới quyền. Mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm về đãi ngộ nhân sự trong phạm vi chức trách được giao. Trước hết, các nhà quản trị phải là những người hoạch định chính sách đãi ngộ nhân sự, sau đó là tổ chức thực hiện và quan trọng hơn, là gương mẫu trong hành động chấp hành chính sách đãi ngộ đã hoạch định.
Trách nhiệm săn sóc thực sự đến đời sống tinh thần và vật chất của người lao động. Vai trò của đãi ngộ nhân sự Luận văn tốt nghiệp 7 Luan van GVHD: PGS. Nguyễn Doãn Thị Liễu Đối với người lao động: Đối với người lao động, đãi ngộ tài chính có vai trò rất quan trọng. Đãi ngộ tài chính thông qua tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động và gia đình người lao động.
Nó giúp người lao động nuôi sống bản thân và gia đình, giúp người lao động tái tạo sức lao động. Đãi ngộ tài chính thông qua thưởng, trợ cấp, phụ cấp, phúc lợi giúp người lao động phổ thông cố gắng gia tăng thêm thu nhập của mình. Cùng với hình thức đãi ngộ phi tài chính, đãi ngộ nhân sự chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.