phần Mở đầu và Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Quan điểm, định hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức các CQCM thuộc UBND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.
Nhận thức chung về công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm về công chức Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nƣớc, đảm bảo cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả. Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây và đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, nhiều nƣớc đã thực hiện chế độ công chức; công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong công sở của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc. Tuy nhiên do đặc thù của mỗi quốc gia và từng giai đoạn lịch sử, chế độ chính trị nên khái niệm công chức không hoàn toàn đồng nhất. Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong cơ quan hành chính công quyền và tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nƣớc tổ chức, bao gồm cả Trung ƣơng và địa phƣơng, nhƣng bao gồm công chức địa phƣơng thuộc các Hội đồng địa phƣơng quản lý. Tất cả nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đƣợc gọi là công chức; các nghị sỹ Quốc hội (Thƣợng nghị sỹ và Hạ nghị sỹ) và những ngƣời làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức.
Khái niệm công chức bao hàm cả những nhân viên làm việc trong ngành hành chính (ví dụ: nội chính và ngoại giao). 10 Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: Công chức là ngƣời đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay ở địa phƣơng, làm việc thƣờng xuyên, toàn bộ thời gian, đƣợc xếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc, có tƣ cách pháp lý khi thi hành công vụ của Nhà nƣớc [27]. Định nghĩa này bao quát đƣợc các điều kiện để trở thành công chức nhƣ: Đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm để làm việc thƣờng xuyên; Làm việc trong công sở; Đƣợc xếp vào một ngạch của hệ thống ngạch bậc; Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc; Có tƣ cách pháp lý khi thi hành công vụ. Khái niệm công chức đƣợc hình thành, phát triển gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc, cụ thể: Sau khi Cánh mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lần đầu tiên công chức đƣợc đề cập trong Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều I, Mục 1 công chức đƣợc hiểu là: "Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền Nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Tuy nhiên, do chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lƣợc, quy chế này không đƣợc triển khai, thực hiện đầy đủ và trên thực tế các nội dung cơ bản không đƣợc áp dụng trong suốt thời gian dài sau đó, mặc dù không có một văn bản nào của Nhà nƣớc phủ định tính pháp lý của Sắc lệnh số 76/SL. Sau khi giải phóng Miền Nam (30/4/1975), thống nhất đất nƣớc, để hoàn thiện chính sách, pháp luật, ngày 26/12/1998, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chƣơng, 48 điều. Với mục đích củng cố và nâng cao chất lƣợng công chức nhằm đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội đã 2 lần sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Pháp lệnh cán bộ, công chức. Lần thứ nhất vào ngày 28/4/2000; Lần thứ 2, thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa IX), Chính phủ đã đề nghị Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội điều chỉnh, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức và thông qua ngày 29/4/2003.
Trƣớc yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 4, ngày 13/11/2008 đã thông qua Luật cán bộ, công chức (Luật số: 22/2008/QH12). Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm công chức đƣợc thống nhất nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [35]. Nhƣ vậy, khái niệm công chức của nƣớc ta bao hàm một phạm vi rộng hơn so với khái niệm công chức của các quốc gia trên thế giới; không giới hạn trong phạm vi nền hành chính nhà nƣớc mà còn bao gồm cả hệ thống chính trị, với mối liên hệ giữa các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức chính trị- xã hội. Đây là đặc thù rất khác so với các nƣớc trên thế giới song lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị Việt Nam.
Khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức cấp huyện * Khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện: Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các cơ quan chính quyền địa phƣơng qua các thời kỳ lịch sử, ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nƣớc và tại các tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì khái niệm về các CQCM thuộc UBND nói chung, UBND huyện nói riêng đƣợc quy định khác nhau, cụ thể: - Theo khoa học pháp lý và các văn quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc, tên gọi của các CQCM thuộc UBND đƣợc sử dụng khác nhau nhƣ: ty, sở, ban và tƣơng đƣơng (ở cấp tỉnh); phòng và tƣơng đƣơng (ở cấp huyện). Do ở mỗi giai đoạn lịch sử, các cơ quan này có vị trí, tính chất, nhiệm vụ khác nhau nên khái niệm về CQCM chƣa đƣợc thống nhất. Các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và CQCM cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ tham mƣu cho UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật. - Theo Từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là "cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nƣớc" [52].
- Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: Cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ƣơng đến cơ sở. CQCM thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp mình; đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của CQCM cấp trên [27]. 13 - Sắc lệnh số 103/SL ngày 05/9/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quy định: Tổ chức các CQCM ở địa phƣơng bƣớc đầu đã xác định theo hƣớng là các CQCM trực thuộc Ủy ban hành chính cả về tổ chức và hoạt động. - Theo Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Điều 128 quy định: Các CQCM thuộc UBND là cơ quan tham mƣu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ƣơng đến cơ sở [37].
Điều 129: CQCM thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của CQCM cấp trên [37]. - Luật tổ chức Chính quyền địa phƣơng năm 2015, quy định: CQCM thuộc UBND đƣợc tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mƣu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nƣớc cấp trên. CQCM thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực cấp trên [36]. - Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ, Quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, đã quy định thống nhất nhiệm vụ của CQCM thuộc UBND cấp huyện trên toàn quốc, cụ thể: + Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tƣơng đƣơng phòng (gọi chung là phòng).